TOA AN NHÂN DÂN
HUYÊN K - TINH GIA LAI
Bản án sô: 35/2019/HS-ST
Ngày: 21-11-2019
CÔNG HOA XA HÔI CHU NGHIA VIÊT NAM
Đôc lâp - Tư do - Hanh phuc
NHÂN DANH
NƯƠC CÔNG HOA XA HÔI CHU NGHIA VIÊT NAM
TOA AN NHÂN DÂN HUYÊN K, TINH GIA LAI
- Thành phần Hôi đông xet xư sơ thâm gôm co:
Thâm phan - Chu toa phiên toa: Bà Bùi Thị Ngọc.
Các Hôi thâm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Cảnh - Cán bộ hưu trí thị trấn K, huyện K;
2. Ông Đặng Văn Đại - Hiệu trưởng trường THPT Kon Hà Nừng huyện K.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Sen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn K, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thâm công khai vu án hinh sư thu lý sô: 37/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vu án ra xét xử sô: 34/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019, đôi vơi bị cáo:
Nguyễn Duy Đ, sinh năm 1990, tại K, Gia Lai; nơi thường trú: Tổ dân phô b, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghê nghiệp: Làm nông; trinh độ văn hoa: 12/12; dân tộc: Kinh; giơi tính: Nam; tôn giáo: Không; quôc tịch: Việt Nam; Tiên án, tiên sư: Không; Nhân thân: Tôt; Con ông Nguyễn Ngọc B và bà Đoàn Thị N; gia đinh bị cáo co 04 anh, chị em, bị cáo là con út trong gia đinh; bị cáo vợ là Nguyễn Thị N (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2012.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 13/5/2019 đến nay, co mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Hải N, sinh năm 1989. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phô H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.
- Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; nơi cư trú: Tổ dân phô M, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2. Anh Trần S, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phô S, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NÔI DUNG VỤ AN:
Theo cac tài liệu có trong hồ sơ vụ an và diễn biến tại phiên toa, nôi dung vụ an được tóm tắt như sau:
Vào chiêu ngày 19/7/2018, Nguyễn Duy Đ đến nhà trọ của Hoàng Hồng V (sinh năm 1987, tại Tổ dân phô M, thị trấn K) tìm V để giải quyết mâu thuẫn cá nhân vê việc tặng cho gỗ đuc tượng nhưng V không gặp V. Đ đã đập phá đồ đạc tại nhà trọ của V rồi đi vê nhà Trần S (sinh năm 1991, trú tại Tổ dân phô S, thị trấn K). Sau đo, V đã gọi điện thoại cho Nguyễn Hải N là em họ của V nhờ N can thiệp, giải quyết giúp mâu thuẫn giữa V và Đ, vì N có quen biết vơi Đ, N đồng ý. N mang theo một cây kiếm tư chế dài khoảng 60cm đi đến nhà V nhưng không gặp Đ. N gọi điện thoại cho Đ hỏi nội dung: Tại sao Đ đến nhà V quậy phá và hỏi Đ đang ở đâu, Đ noi đang ở nhà S. N mang kiếm đến đứng ở giữa đường Lê Văn T, trươc cửa nhà Trần S và gọi điện thoại cho Đ (lúc này Đ đang ngồi chơi, noi chuyện vơi S ở trong nhà). N và Đ đã cãi cọ, chửi bơi, thách thức đánh nhau qua điện thoại. Do bưc tức, Đ đã đi ra phòng khách, lấy 01 thanh kiếm treo trên tường nhà S, loại kiếm tư chế dài khoảng 1,2m, lưỡi bằng thép mài sắc hai cạnh dài khoảng 90cm, mũi nhọn, bản rộng khoảng 2-3cm, cán bằng gỗ dài khoảng 30cm (kiếm của Đ tặng cho S) để đi ra đánh nhau vơi N. Ban đầu, N và Đ nhặt đá ở đường cầm ném nhau nhưng không trúng. Sau đo, Đ và N cùng cầm kiếm xông vào đánh nhau. Đ cầm kiếm ở tay trái chém N, N dùng kiếm đỡ lại. Do kiếm của N ngắn hơn nên N vừa đỡ kiếm vừa lùi vê sau theo truc đường Lê Văn T hương vê đường Lê L, Đ dùng kiếm tấn công N, vừa chém Đ vừa tiến tơi. N lùi vê sau khoảng 20 mét thì bị rơi thanh kiếm đang cầm trên tay. Đ tiếp tuc tiến tơi chém N, N vừa lùi vừa dùng vỏ kiếm để đỡ. Khi đến trươc nhà bà Đinh Thị Kim S, Đ tiếp tuc dùng kiếm chém liên tiếp vê phía N, N vừa đỡ vừa dùng vỏ kiếm tấn công lại Đ. Đ vung kiếm chém, vừa lúc đo N xông lên mũi kiếm của Đ đâm trúng bung N. N dùng hai tay ôm vết thương ở bung cùng mũi kiếm của Đ, Đ rút kiếm ra làm N bị thương ở tay phải. Đ cầm kiếm quay vê hương nhà S. Trên đường đi, Đ nhặt lấy thanh kiếm N đã làm rơi trươc đo, cầm cùng vơi thanh kiếm của Đ. Sau đo Đ điêu khiển xe máy đi vê nhà tại tổ dân phô B, thị trấn K. Trên đường đi, Đ đã vứt 02 thanh kiếm trên xuông sông Ba khi đi qua cầu treo. N được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện K và chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Binh Đ điêu trị.
Ngày 17/8/2018, Nguyễn Hải N co đơn trinh báo đê nghị Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an huyện K xử lý vu việc trên và cung cấp các giấy tờ có liên quan trong việc điêu trị thương tích do Đ gây ra. Nhận được tin báo Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an huyện K đã tiến hành triệu tập lấy lời khai, kiểm tra xem xét hiện trường và truy tìm vật chứng.
Ngày 14/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an huyện K đã ra Quyết định trưng cầu giám định sô: 03/QĐTCGĐ ngày 14/01/2019 vê tổn hại thương tích đôi vơi Nguyễn Hải N do bị Nguyễn Duy Đ đâm. Tại Bản kết luận giám định pháp y vê thương tích sô: 20/2019/TgT ngày 28/02/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Gia Lai kết luận:
- Ba sẹo vết thương phần mêm: Một vết hình chữ U mặt lòng đôt 1 ngón I bàn tay phải kích thươc (2,5x0,2)cm, sẹo liên; Một vết thương mặt mu đôt 1 ngón I bàn tay phải kích thươc (3x0,1)cm và một vết vùng góc hô chậu bên trái kích thươc (1x0,5)cm: 2%.
- Đứt gân duỗi ngón I bàn tay phải đã khâu nôi ảnh hưởng ít đến động tác duỗi ngón tay: 2%.
- Thủng đại tràng xuông đã xử trí: 41%.
- Thủng đại tràng xuông làm hậu môn tạm biến chứng dính ruột, mổ gỡ dính ruột lần thứ nhất: 23%.
- Gãy cũ đầu gôc đôt gần ngón I bàn tay phải: 3%.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 58% (áp dung phương pháp cộng lùi theo Thông tư 20/2014/TT-BYT).
Quá trinh điêu tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không co ý kiến hay khiếu nại gi vê kết luận giám định nêu trên.
Vê trách nhiệm dân sư: Bị cáo Nguyễn Duy Đ đã bồi thường tiên chữa trị vết thương cho bị hại Nguyễn Hải N sô tiên 25.000.000 đồng. Bị hại trinh bày là đã nhận đủ sô tiên trên, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nữa và co đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Vê vật chứng của vu án: Sau khi dùng kiếm (loại kiếm tư chế dài khoảng 1,2m, lưỡi bằng thép mài sắc hai cạnh dài khoảng 90cm, mũi nhọn, bản rộng khoảng 2-3cm, cán bằng gỗ dài khoảng 30cm) đâm Nam, Đ đã cầm cả hai thanh kiếm (của Đ và Nđã sử dung khi chém nhau) vứt xuông sông Ba khi Đ đi qua cầu treo. Cơ quan Cảnh sát điêu tra công an huyện K đã phôi hợp cùng chính quyên địa phương tiến hành truy tìm nhưng không tìm được.
Lời khai của bị cáo, bị hại, những người làm chứng bà Nguyễn Thị T và anh Trần S trong hồ sơ vu án đêu thể hiện được đặc điểm của thanh kiếm mà bị cáo Nguyễn Duy Đ dùng để đâm Nguyễn Hải N (là loại kiếm tư chế dài khoảng 1,2m, lưỡi bằng thép mài sắc hai cạnh dài khoảng 90cm, mũi nhọn, bản rộng khoảng 2-3cm, cán bằng gỗ dài khoảng 30cm) chính là hung khí gây án.
Tại Bản cáo trạng sô: 37/CTr-VKS ngày 21/10/2019, VKSND huyện K đã truy tô Nguyễn Duy Đ vê tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điêu 134 Bộ luật hinh sư năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của minh như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K vẫn giữ nguyên quyết định truy tô bị cáo vê tội danh, điêu luật áp dung như nội dung bản Cáo trạng và đê nghị Hội đồng xét xử tuyên bô bị cáo Nguyễn Duy Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Đồng thời đê nghị Hội đồng xét xử:
Áp dung điểm c khoản 3 Điêu 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điêu 51; Điêu 38 của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đê nghị xử phạt Nguyễn Duy Đ từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Vê trách nhiệm dân sư: Đã giải quyết xong nên không đê cập đến.
Vê xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an huyện K đã tiến hành truy tìm nhưng không phát hiện được nên không đê cập đến.
Vê án phí: Áp dung khoản 2 Điêu 136 Bộ luật Tô tung Hinh sư năm 2015 và Nghị quyết sô 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vu Quôc hội vê án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Duy Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hinh sư sơ thâm.
Bị cáo trinh bày là đã nhận thức được hành vi của minh là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hinh phạt để bị cáo sơm quay vê đoàn tu vơi gia đinh.
NHẬN ĐỊNH CUA HÔI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nôi dung vụ an, căn cứ vào cac chứng cứ và tài liệu đã được thâm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toa; Hôi đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Vê hành vi, quyết định tô tung của Cơ quan điêu tra Công an huyện K, Điêu tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trinh điêu tra, truy tô đã thưc hiện đúng vê thâm quyên, trinh tư, thủ tuc quy định của Bộ luật Tô tung Hinh sư. Quá trinh điêu tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tô tung khác không co người nào ý kiến hoặc khiếu nại vê hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tô tung, người tiến hành tô tung. Do đo, các hành vi, quyết định tô tung của Cơ quan tiến hành tô tung, người tiến hành tô tung đã thưc hiện đêu hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tô. Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp vơi lời khai của bị cáo tại Cơ quan điêu tra, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác co trong hồ sơ vu án được thu thập khách quan, đúng pháp luật. Như vậy co đủ cơ sở để kết luận:
Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân trong việc Đ co hành vi đến quậy phá nhà của anh Hoàng Hồng V (là anh họ của Nam) nên vào chiêu ngày 19/7/2018, Nguyễn Duy Đ đã dùng kiếm tư chế là hung khí nguy hiểm đâm trúng bung và làm N bị thương ở tay phải do rút kiếm ra, gây thương tích cho N vơi tỷ lệ mức độ tổn hại sức khỏe là 58%.
[3] Vê tinh tiết tăng nặng định khung áp dung đôi vơi bị cáo:
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể mà bị cáo gây ra đôi vơi anh N là 58% và bị cáo đã sử dung kiếm là hung khí nguy hiểm để đâm N gây thương tích, nên đây là tinh tiết tăng nặng định khung được quy định tại điểm c khoản 3 Điêu 134 của Bộ luật Hinh sư 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đo, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm c khoản 3 Điêu 134 của Bộ luật Hinh sư năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vi vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tô bị cáo Nguyễn Duy Đ vê tội danh và hinh phạt theo điêu luật trên là đúng người, đúng tội và co căn cứ pháp luật.
[4] Xét tính chất của vu án, các tinh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hinh sư, nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Vê nhân thân: Bị cáo co nhân thân tôt, không co tiên án, tiên sư.
Vê tinh tiết tăng nặng: Bị cáo không co tinh tiết tăng nặng trách nhiệm hinh sư.
Vê tinh tiết giảm nhẹ: Quá trình điêu tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khân khai báo, ăn năn hôi cải; bị cáo đã tư nguyện bồi thường khắc phuc hậu quả do hành vi phạm tội của minh gây ra cho bị hại vơi sô tiên 25.000.000 đồng, sau khi nhận tiên bị hại không co yêu cầu gi thêm vê mặt dân sư và co đơn xin giảm nhẹ hinh phạt cho bị cáo. Bên cạnh đo trong vu án này, bị hại cũng co một phần lỗi (N mặc dù không liên quan đến mâu thuẫn giữa Đ và V nhưng lại là người chu đông cầm kiếm đi tìm Đ để thach thức đanh nhau). Đây là những tinh tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51 của Bộ luật Hinh sư năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà Hội đồng xét xử áp dung đôi vơi bị cáo.
[5] Hành vi của bị cáo là hành vi gây nguy hiểm lơn cho xã hội, hành vi đo không những xâm phạm đến sức khoẻ của người khác một cách trái pháp luật, mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tư trị an trên địa bàn. Khi thưc hiện hành vi phạm tội bị cáo co đầy đủ năng lưc trách nhiệm hinh sư, nhận thức và làm chủ được hành vi của minh.
Xét tính chất của vu án, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả gây ra cho xã hội, nhân thân và các tinh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hinh sư của bị cáo thấy rằng cần áp dung hinh phạt tù co thời hạn nhằm cách ly bị cáo Nguyễn Duy Đ ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để giáo duc bị cáo thành người công dân co ích cho gia đinh và xã hội là điêu cần thiết.
[6] Liên quan trong vu án còn co anh Hoàng Hồng V, là người co mâu thuẫn vơi Đ và đã gọi N lên để giải quyết giúp minh; anh V có một sô tài sản bị hư hỏng do hành vi quậy phá của Đ nhưng anh V không yêu cầu giải quyết. Qua xác minh thi biết được anh V đã đi khỏi địa phương và cũng không chứng kiến sư việc cô ý gây thương tích trên xảy ra nên Hội đồng xét xử không đưa anh V là người làm chứng trong vu án.
Đôi vơi anh Trần S là chủ sở hữu của thanh kiếm mà Đ sử dung để đâm Nguyễn Hải N, đây là thanh kiếm của Đ tặng cho anh S treo trên tường nhà làm vật trang trí không co giá trị gi nên anh S không yêu cầu giải quyết. Vi vậy, Hội đồng xét xử đưa anh S vào tham gia tô tung trong vu án vơi vai trò là người làm chứng.
[7] Xét quan điểm đường lôi giải quyết vu án của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K đê nghị Hội đồng xét xử áp dung điêu luật, hinh phạt, trách nhiệm dân sư, xử lý vật chứng là phù hợp nên được Hội dồng xét xử chấp nhận.
[8] Vê trách nhiệm dân sư: Bị cáo đã bồi thường tiên chi phí chữa trị cho bị hại vơi sô tiên là 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Bị hại đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường gi thêm.
Xét thấy vê trách nhiệm dân sư giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, sư thỏa thuận không trái pháp luật và phù hợp vơi quy định tại Điêu 590 của Bộ luật Dân sư. Do bị hại không yêu cầu gì thêm vê trách nhiệm bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Vê vật chứng của vu án: Đôi vơi 01 thanh kiếm dài khoảng 60cm và 01 thanh kiếm loại kiếm tư chế dài khoảng 1,2m, lưỡi bằng thép mài sắc hai cạnh dài khoảng 90cm, mũi nhọn, bản rộng khoảng 2-3cm, cán bằng gỗ dài khoảng 30cm, đêu đã bị Đ ném xuông sông Ba. Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an huyện K đã tổ chức truy tìm tại khu vưc sông Ba dươi cầu treo và mở rộng xung quanh nhưng không phát hiện được. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[10] Vê án phí: Bị cáo phải chịu án phí hinh sư sơ thâm theo quy định.
Vi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Vê tội danh: Tuyên bô bị cáo Nguyễn Duy Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích".
[2] Vê điêu luật: Áp dung điểm c khoản 3 Điêu 134; các điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51; Điêu 38 của Bộ luật hinh sư năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Đ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 13/5/2019).
[3] Vê án phí: Áp dung khoản 2 Điêu 136 Bộ luật Tô tung Hinh sư năm 2015 và Nghị quyết sô 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vu Quôc hội vê án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Duy Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hinh sư sơ thâm.
[4] Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/11/2019), bị cáo có quyên làm đơn kháng cáo đê nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thâm. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa co quyên kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Gia Lai;
- VKSND huyện K;
- Công an huyện K;
- Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Chi cuc THADS huyện K;
(Khi án có HLPL).
- Lưu HSVA,VPTA.
- TAND tỉnh Gia Lai;
- VKSND huyện K;
- Công an huyện K;
- Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Chi cuc THADS huyện K;
(Khi án có HLPL).
- Lưu HSVA,VPTA.
T/M HÔI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa
Bùi Thị Ngọc
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa
Bùi Thị Ngọc
