TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 136/2019/HNGĐ-ST
Ngày 27-11-2019
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dương Minh Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Châu Hoàng Huy.
Ông Phạm Văn Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Lễ – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 263/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Bé T, sinh năm 1989 (có mặt).
- Bị đơn: Anh Lâm Thành B, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Cùng cư trú: Ấp 11, xã N, huyện M, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06-9-2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lê Thị Bé T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Bé T và anh Lâm Thành B tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện M, tỉnh Cà Mau ngày 14-7-2011. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng ý kiến trong sinh hoạt hàng ngày, vợ chồng không có sự quan tâm chăm sóc, chia sẻ và nhường nhịn nhau dẫn đến thường xuyên cự cãi. Anh B có hành vi đánh đập, xúc phạm danh dự chị. Vợ chồng ly thân tháng 8 năm 2019 cho đến nay. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh B.
Về con chung: Có 01 người con chung tên Lâm Lê Thái S (nam), sinh ngày 31-5-2015. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Lâm Thành B không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về thủ tục tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật về thủ tục tố tụng giải quyết vụ án dân sự. Bị đơn không chấp hành quy định pháp luật. Áp dụng Điều 51, 56, 81 và 82 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Bé T ly hôn với anh Lâm Thành B. Giao con chung là Thái S cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng; không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Lâm Thành B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Bé T và anh Lâm Thành B tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện M, tỉnh Cà Mau ngày 14-7-2011 đúng theo quy định tại Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh B được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Bé T, thấy rằng: Tại phiên tòa, chị T xác định vợ chồng đã ly thân tháng 8 năm 2019 cho đến nay; hiện nay chị T không còn tình cảm yêu thương anh B và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Đồng thời, chị T khẳng định đời sống hôn nhân không thể duy trì, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn đoàn tụ. Trường hợp tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn với anh B.
[4] Về nuôi con chung: Tại phiên tòa, chị T yêu cầu nuôi dưỡng Thái S, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh B nhưng không có văn bản ý kiến về quyền và nghĩa vụ nuôi con chung. Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, anh B là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thái S nhưng anh B đã bỏ địa phương đi giao con lại cho chị T nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi con chung khi ly hôn, cần giao cháu Thái S cho chị Trân tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[5] Chị T không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[7] Về án phí: Chị Lê Thị Bé T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 56, 81 và 82 của Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Bé T ly hôn với anh Lâm Thành B.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là Lâm Lê Thái S (nam), sinh ngày 31-5-2015 cho chị Lê Thị Bé T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lâm Thành B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Lê Thị Bé T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 06 tháng 9 năm 2019, chị T đã dự nộp án phí 300.000 đồng tại biên lai số 0004572 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Lê Thị Bé T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lâm Thành B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Cà Mau;
- VKSND huyện U Minh;
- Chi cục THADS huyện U Minh;
- UBND xã N, huyện M;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu văn thư.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Dương Minh Út