TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 51/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25-11-2019
V/v tranh chấp ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Khắc Tân
2. Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà, Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 486/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2019 về "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 591/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 644/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966; địa chỉ: Số 170A CH, phường H, quận L, thành phố H; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phạm Trung K, sinh năm 1957; địa chỉ: Số 170A CH, phường H, quận L, thành phố H; vắng mặt.
NHẬN THẤY:
Trong đơn xin ly hôn; bản tự khai; biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; các biên bản làm việc với Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn (bà Nguyễn Thị L) trình bày:
Tôi và ông Phạm Trung K tự nguyện xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường H, quận H, thành phố H ngày 04 tháng 6 năm 1987, việc lấy nhau được gia đình hai bên đồng ý tổ chức hỏi cưới theo phong tục, tập quán.
Vợ chồng tôi chung sống hòa thuận đến khoảng năm 1997 - 1998 khi tôi mang bầu cháu thứ 2 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách và quan điểm sống giữa hai bên không còn phù hợp với nhau; ông K đánh bài, tôi đã góp ý rất nhiều lần nhưng không được. Tôi cũng đã nói rõ với ông K về việc tôi căm ghét những người đánh bài thế nào nhưng ông K không hề để ý đến tâm trạng của tôi mà vẫn tiếp tục sở thích của mình. Đến năm 2015 cuộc sống vợ chồng quá ngột ngạt, ức chế và tôi không chịu được nữa nên quyết định sống ly thân; mặc dù sống chung một nhà nhưng chúng tôi không nói chuyện với nhau, không ăn, ngủ cùng nhau và không còn quan tâm trách nhiệm gì đến nhau. Những năm sống ly thân tôi cũng đã cho ông K rất nhiều cơ hội nhưng càng ngày ông K càng khiến cho tôi mất hết niềm tin và tình cảm với ông K. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày một trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, không thể hàn gắn được; tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông K.
Về con chung: Tôi và ông K có 02 con chung là Phạm Bảo Tr, sinh ngày 22/01/1988 và Phạm Bảo S, sinh ngày 23/10/1998, nay đều đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Tôi và ông K tự thỏa thuận giải quyết với nhau, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Tôi (L) xin chịu cả án phí ly hôn theo quy định pháp luật
Trong quá trình giải quyết vụ án ông K có mặt, tại phiên tòa ông K vắng mặt không có lý do mặc dù đã được nhận các văn bản của Tòa án giao đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại bản tự khai; các biên bản ghi lời khai; biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; ông Phạm Trung K trình bày:
Tôi và bà Nguyễn Thị L tự nguyện xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường H, quận H, thành phố H ngày 04 tháng 6 năm 1987, việc lấy nhau được gia đình hai bên đồng ý tổ chức hỏi cưới.
Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2017 thì có những mâu thuẫn nảy sinh. Nguyên nhân mâu thuẫn do bà L đi bán cà phê cùng chị gái tại số 46 Lê Lai, Hải Phòng. Khi đó bà L nói với tôi không về nhà ăn cơm nữa và tự ý chuyển sang phòng khác ngủ riêng, từ đó vợ chồng rất ít khi nói chuyện với nhau. Chúng tôi đã sống ly thân nhau từ đó tới nay. Tôi thừa nhận có đánh bài nhưng chỉ là chuyện bình thường mang tính giải trí, không mang tính chất được thua để ảnh hưởng đến gia đình, không vay nợ của ai. Nay bà L xin ly hôn tôi không đồng ý, cuộc sống gia đình tôi vẫn bình thường, tôi muốn các con tôi được sống cùng cả bố và mẹ, muốn các con có chỗ dựa nên quan điểm của tôi là không đồng ý ly hôn với bà L.
Về con chung: Tôi và bà L có 02 con chung là Phạm Bảo Tr, sinh ngày 22/01/1988 và Phạm Bảo S, sinh ngày 23/10/1998 đến nay đều đã trên 18 tuổi; nếu ly hôn tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Nếu ly hôn, tôi và bà L tự thỏa thuận, giải quyết với nhau nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ kiện đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của các đương sự, việc giao các văn bản cho các bên. Về phía nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ theo quy định tố tụng dân sự khi tham gia tố tụng; bị đơn không chấp hành đầy đủ theo quy định tố tụng dân sự khi tham gia tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị L được ly hôn ông Phạm Trung K. Về con chung: Bà L và ông K có 02 con chung là Phạm Bảo Tr, sinh ngày 22/01/1988 và Phạm Bảo S, sinh ngày 23/10/1998 nay đều đã trên 18 tuổi, hai bên không yêu cầu nên không đặt ra xét giải quyết. Về tài sản chung, công nợ: Bà L và ông K không yêu cầu, nên không đặt ra xét giải quyết.
Về án phí: Bà L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tố tụng:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
[2] Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, ông K có mặt nhưng khi đưa vụ án ra xét xử, ông K đều vắng mặt không có lý do mặc dù đã nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án giao hợp lệ, qua đó cho thấy ông K đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình trước pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông K theo quy định pháp luật.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa bà L và ông K tuân thủ đúng quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên hòa thuận, hạnh phúc đến khi bà L mang thai con thứ hai thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung; ông K thích chơi bài, bà L đã khuyên can ông K nhiều nhưng không có kết quả mà cho rằng việc chơi bài là bình thường và giải trí, ông không quan tâm đến cảm xúc của bà L. Từ đó cuộc sống vợ chồng dần lạnh nhạt với nhau, không nói chuyện với nhau. Đến năm 2015 tuy vẫn sống chung cùng nhà nhưng vợ chồng sống ly thân nhau, không còn quan hệ gì với nhau về mọi mặt; điều này phù hợp với lời trình bày của anh Tr (con trai bà L, ông K) cung cấp: Ông K, bà L sống lạnh nhạt, không quan tâm trách nhiệm đến nhau và chính quyền địa phương cung cấp: Địa phương biết mâu thuẫn của bà L, ông K từ nhiều năm nay, địa phương tiến hành tổ chức hòa giải nhưng các bên không đồng ý để tổ chức hòa giải. Nay bà L làm đơn xin ly hôn ông K, ông thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn như bà L trình bày và hai bên đã sống ly thân nhau. Ông không đồng ý ly hôn vì ông muốn các con ông sống cùng cả bố, mẹ và mâu thuẫn của vợ chồng ông sẽ giải quyết được. Nhưng ông K cũng không làm điều gì để thể hiện, chứng minh mâu thuẫn của vợ chồng ông sẽ giải quyết được để vợ chồng đoàn tụ trong khi bà L đã cho ông nhiều cơ hội nhưng không kết quả; ngay tại phiên tòa ông K vắng mặt không có lý do. Qua đó cho thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông K đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà L xin được ly hôn với ông K là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần được chấp nhận.
[4] Về con chung: Bà L và ông K có 02 con chung là Phạm Bảo Tr, sinh ngày 22/01/1988 và Phạm Bảo S, sinh ngày 23/10/1998, nay đều đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung, công nợ: Hai bên tự thỏa thuận giải quyết với nhau, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xét giải quyết.
[6] Về án phí: Bà L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà Nước theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn ông Phạm Trung K.
2. Về án phí: Bà L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này bà L đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo Biên lai thu tiền số 0013500 ngày 17/9/2019.
Bà L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
- VKSND quận Lê Chân;
- THADS quận Lê Chân;
- Các đương sự;
- UBND phường H;
q. H, Tp H;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Bá Lộc
