TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 825/2019/HSPT
Ngày 16 tháng 12 năm 2019
“Nguyễn Minh T
Giết người”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Công
Các thẩm phán:
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Duẫn - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên cao cấp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Duẫn - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên cao cấp.
Ông Đặng Văn Thành
Ông Đỗ Đình Thanh
Ông Đỗ Đình Thanh
Ngày 16 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 603/2019/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Minh T do Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HS-ST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh V.
Bị cáo bị kháng nghị: Nguyễn Minh T (Tên gọi khác: H), sinh ngày 22/4/1995 tại tỉnh V; Thường trú: Tổ 4, ấp Thành Ninh, xã Thành Lợi, huyện B, tỉnh V; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông Nguyễn Hữu Tâm và bà Nguyễn Thị Phượng; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa từng bị kết án; Tạm giam từ ngày 15/5/2019 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Đỗ Hải Bình thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt;
Người bị hại: Ông Trần Hữu T1 (chết).
Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
- Cụ Lê Thị N, sinh năm 1959 (Mẹ của bị hại) – Có mặt;
- Cụ Trần Hữu T2, sinh năm 1961 (Cha của bị hại) – Vắng mặt;
Cùng địa chỉ: ấp Thành Công, xã Thành Lợi, huyện B, tỉnh V.
- Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1987 (Vợ của bị hại) – Vắng mặt;
- Anh Trần Hoàng L, sinh ngày 24/11/2004 (Con của người bị hại) – Vắng;
- Chị Trần Thị Cẩm T3, sinh ngày 18/9/2006(Con của người bị hại) – Vắng;
Cùng trú: ấp Thành Nghĩa, xã Thành Lợi, huyện B, tỉnh V.
Bà Nguyễn Thị Kim D đồng thời là người đại diện hợp pháp của anh Trần Hoàng L và chị Trần Thị Cẩm T3.
Ngoài ra còn có 02 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 14/5/2019, sau khi dự đám cưới, Bùi Minh H1 điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Minh T và Trần Quốc Đ (ngồi giữa) về nhà T uống bia. Khi còn cách nhà T khoảng 50 mét thì có Trần Hoài N1 điều khiển một xe mô tô, Trần Hoàng L điều khiển một xe mô tô từ phía sau nẹt pô xin vượt nhưng T dang chân ra và đạp trúng chân L làm xe L chao đảo nhưng vẫn vượt qua được. Khi L và N1 về đến nhà L thì N1 đánh thức cha của L là Trần Hữu T1 dậy và kể lại sự việc. Nghe xong, T1 kêu L chở T1 đi tìm T; vợ của T1 là Nguyễn Thị Kim D điều khiển xe chở theo Trần Thị Cẩm T3, còn N1 chạy xe theo và ghé nhà rước Trần Văn H2 (Út L1) đi theo T1.
Khi đến quán bida, ông T1 hỏi Lê Ngọc T4 có thấy ai đạp xe của L không? T4 nói không thấy và kêu T1 về đi để hôm sau sẽ hỏi lại. Khi L chạy xe đến tiệm tạp hóa của anh Lê Minh T5 thì thấy T nên L dừng xe lại, chỉ vào T và nói T là người đạp xe. Ông T1 đến nói: “Mày làm gì kiếm chuyện và đạp xe con tao?”, T trả lời: “Chú cháu không, tôi làm gì nó?”. Trong lúc T và ông T1 cự cãi với nhau thì D, T3, N1, H2 chạy đến. T lấy trong túi quần ra một con dao bấm dài 13,3 cm, lưỡi bằng kim loại dài 10,7 cm, bấm cho lưỡi dao bật ra và giấu sau lưng. D thấy nên la lên, T1 kêu L chạy đến điểm đánh bida kêu T4 đến nơi T và T1 đang cự cãi. Sau khi kêu T4, trên đường quay lại nơi T và T1 cự cãi thì L nhặt một đoạn gỗ dài 1,1 mét cầm trên tay. T6 dùng cây cơ bida (bằng gỗ) chống làm nạng và cùng T4 đi đến nơi thấy ông T1 và T cự cãi nên T4 và T6 vào can ngăn. T4 ôm T lại và đẩy ra kêu T đi về, T xếp dao bấm lại bỏ vào túi quần.
D và T6 can ngăn T1 và L, nhưng T1 vẫn xông tới dùng tay đánh trúng vào đầu của T một cái, T móc dao ra và bấm cho lưỡi dao bật ra, T4 đẩy T ra. Lúc này T1 lấy cây cơ bẻ gãy làm đôi cầm trên tay xông tới đánh trúng đầu T 01 cái, L cũng cầm đoạn gỗ đánh trúng vào vai T. T4 buông T ra thì T cầm dao đâm về phía T1 nhiều cái. Khi bị T đâm trúng ngực thì T1 lùi lại té bật ngữa xuống đường đal. Sau đó mọi người đưa T1 cấp cứu và chuyển đến Bệnh viện Trung ương thành phố Cần Thơ, nhưng T1 đã chết. Còn T đến Công an đầu thú.
Kết luận giám định pháp y tử thi số 287/KLGĐ-PC09 ngày 16/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh V xác định Trần Hữu T1:Vết thương thủng sắc nhọn mặt trước và sau vùng thất phải tim, ứ nhiều máu trong khoang màng bao tim, tại miệng vết thương ra nhiều máu; Giập não thùy trán hai bên; Nứt mặt ngoài và trong xương thái dương phải. Nguyên nhân tử vong do sốc mất máu cấp bởi vết thương thủng tim, kết hợp với chấn thương sọ não.
Kết luận giám định pháp y về ADN số 3.145-2019/ADN ngày 27/5/2019 của Trung tâm y tế Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận ADN của Trần Hữu T1 có hiện diện trong dấu vết trên toàn bộ lưỡi con dao bấm do Nguyễn Minh T nộp.
Tại Bản cáo trạng số 14/CT-VKSVL-P1 ngày 15/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V đã truy tố Nguyễn Minh T (H) về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HS-ST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh V đã quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T (H) phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T (H) 09 (Chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 15/5/2019.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; về án phí; trách nhiệm do chậm thi hành án; nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại Quyết định số 01/QĐ-VKSVL-P1 ngày 30/9/2019 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V kháng nghị phúc thẩm theo hướng bị cáo phạm tội theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự và tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo khai nhận có thực hiện hành vi như Bản án sơ thẩm xử nên bị cáo chấp hành và xin được giữ nguyên hình phạt như Bản án sơ thẩm đã xử.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư đề nghị xem xét sự việc cự cãi đã được mọi người can ngăn, chấm dứt nhưng người bị hại và con của người bị hại vẫn xông đến dùng đoạn gỗ cứng là hung khí nguy hiểm đánh vào đầu, vào vai của bị cáo làm bị cáo choáng nên bị cáo mới phản ứng lại bằng hành vi dùng dao đâm. Lẽ ra phải xem xét bị cáo phạm tội do bị kích động mạnh bởi hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra. Tuy không có kháng cáo, kháng nghị nhưng cấp phúc thẩm vẫn có quyền xem xét theo hướng có lợi cho bị cáo, đề nghị sửa Bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị xem xét kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết phúc thẩm. Hành vi của bị cáo diễn ra liên tục, từ việc dang chân đạp vào xe con của người bị hại, thủ sẵn dao trong người cho đến khi cự cãi với người bị hại thì móc dao ra đâm chết người bị hại, chứng tỏ bản chất côn đồ, đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V, sửa Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự và tăng hình phạt bị cáo lên từ 12 năm đến 14 năm tù.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKSVL-P1 ngày 30/9/2019 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y tử thi, giám định pháp y về ADN, biên bản thu giữ vật chứng, lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận vào ngày 14/5/2019, bị cáo T và người bị hại Trần Hữu T1 cự cãi về việc bị cáo đạp vào xe của anh Trần Hoàng L là con của T1. Sau khi được các anh chị: T4, T6, D can ngăn, bị cáo T đã xếp dao lại, định bỏ đi thì người bị hại T1 xông tới dùng đoạn cơ bằng gỗ đánh trúng vào đầu bị cáo, L cũng dùng đoạn gỗ đánh trúng vào vai bị cáo (Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 15/5/2019 thể hiện bị cáo bị sưng nề vùng chẩm; xây xát da vùng cằm, mũi; tay phải bầm máu vùng cơ) nên bị cáo cầm dao đâm nhiều cái trúng người bị hại T1 ngã xuống nền lộ đal, sau đó tử vong. Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Sự việc bị cáo đạp vào xe của L dẫn đến bị cáo và người bị hại cự cãi đã chấm dứt khi mọi người can ngăn, bị cáo đã xếp dao lại định bỏ đi thì người bị hại và con của người bị hại vẫn tiếp tục xông đến dùng đoạn cây gỗ đánh trúng vào đầu, vào vai của bị cáo nên bị cáo đã dùng dao đâm vào người bị hại. Như vậy, người bị hại và con của người bị hại tấn công trước và khi tấn công có dùng đoạn gỗ cứng là hung khí nguy hiểm đánh trúng vào đầu, vào vai của bị cáo làm sưng nề vùng chẩm, tay bị bầm máu vùng cơ, làm cho bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự nên không có căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ; đồng thời cũng không có căn cứ để chấp nhận việc luật sư đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
[4] Bị cáo phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường dân sự xong, người bị hại có phần lỗi tấn công trước. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn cân nhắc thêm các tình tiết: Đại diện người bị hại thiết tha xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên đã xử phạt bị cáo 09 năm tù là mức trung bình của khung hình phạt quy định phạt tù từ 07 năm đến 15 năm là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết tăng nặng mới nên không có căn cứ để tăng thêm hình phạt theo kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V, cũng không có căn cứ để chấp nhận ý kiến của luật sư đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự; về án phí; trách nhiệm do chậm thi hành án; nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Không chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 16/2019/HS-ST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh V.
2. Áp dụng khoản 2 Điều 123; Các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T (Tên gọi khác: H) phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T (Tên gọi khác: H) 09 (Chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 15/5/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự; về án phí; trách nhiệm do chậm thi hành án; nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Chánh án TANDTC
- Viện Trưởng VKSNDTC
- VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- Tòa án nhân dân tỉnh V;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V;
- Công an tỉnh V;
- Sở Tư pháp tỉnh V;
- Cục THADS tỉnh V;
- Trại tạm giam Công an tỉnh V
(Trại tạm giam Công an tỉnh V tống đạt
cho bị cáo;
- Lưu
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Công