TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 48/2025/DS - PT
Ngày: 29-10-2025
“V/v tranh châp quyên sư dung đât”
NHÂN DANH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương.
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn và ông Trần Anh Tuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Bá Tuân Linh - Thư ký TAND tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị: Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 29/10/2025, tại Tru sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xư phúc thẩm công khai vu án dân sự thu lý số: 46/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2025 vê việc “Tranh châp quyên sư dung đât”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vu án ra xét xư phúc thẩm số 48/2025/QĐ-PT ngày 17/10/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phan Văn H, sinh năm 1947; CCCD số: 044047003203 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1947 CCCD số: 044147005250; cùng địa chỉ: thôn G, xã T, tỉnh Quảng Trị (thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình cũ); ông H có mặt; Bà L vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị L: Ông Hoàng Anh T; địa chỉ: Số A, M, phường Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Bị đơn: Anh Phan Văn B, sinh năm 1982; CCCD số: 044082004268, địa chỉ: Thôn G, xã T, tỉnh Quảng Trị (thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình cũ), có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Võ Thị Thanh T1, sinh năm 1985; CCCD số: 044085004946, địa chỉ: Thôn G, xã T, tỉnh Quảng Trị (thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình cũ), có mặt.
+ UBND xã T, tỉnh Quảng Trị; địa chỉ: Xã T, tỉnh Quảng Trị. Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh S, Chủ tịch UBND xã T, vắng mặt. Đại diện theo ủy quyên: Ông Phan Hữu T2, Phó Chủ tịch UBND xã T, có mặt; Ông Nguyễn Thanh Q, PGĐ Trung tâm hành chính C, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn - ông Phan Văn H và bà Phạm Thị L và người đại diện theo uỷ quyên của nguyên đơn trình bày: Năm 1994, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, gia đình ông Phan Văn H và bà Phạm Thị L di dân xây dựng vùng kinh tế mới tại xã T, đến năm 1997 được câp thẻ di dân và nhận tiên trợ câp kinh tế mới với số tiên 2.700.000 đồng. Lúc đó số lao động là 02 vợ chồng ông H, bà L và các con gồm: Phan Thị H1, Phan Văn H2 và Phan Thị H3. Sau khi lập nghiệp tại vùng kinh tế mới, gia đình ông H bà L có khai khẩn đât trồng keo phát triển kinh tế với diện tích khoảng 30.000 m2 đât. Năm 2008 gia đình ông H, bà L chia đât thành 05 khoảnh (05 thưa đât) và cho con Phan Văn H2 2.871,6 m2, Phan Văn B 4.024,7 m2, Phan Thị H1 2.670,5 m2 và được Nhà nước câp giây chứng nhận quyên sư dung đât. Diện tích đât còn lại vợ chồng ông H bà L quản lý sư dung. Năm 2018 chuyển nhượng một phần diện tích đât rừng sản xuât cho Phan Văn H2, một phần ông bà sư dung và sau đó cho Phan Văn B mượn trồng cây cho đến nay. Nhiêu lần vợ chồng ông H bà L muốn lây lại diện tích đât rừng sản xuât để canh tác nhưng Phan Văn B không trả và cố tình chiếm diện tích 2.905,3 m2 đât rừng thuộc thưa số 13, tờ bản đồ số 01 tại xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình (sau sáp nhập là xã T, tỉnh Quảng Trị). Phần diện tích đât này vợ chồng H bà L khai hoang nhưng chưa làm thủ tuc câp giây chứng nhận quyên sư dung đât. Ông bà khởi kiện yêu cầu cầu anh Phan Văn B trả lại cho ông H, bà L 2.9015,3 m2 đât rừng nói trên.
Bị đơn anh Phan Văn B trình bày: Năm 2000, anh B theo gia đình lên vùng kinh tế mới lập nghiệp, cu thể tại vùng ngã tư B. Năm 2001 anh B đã khai hoang trên mảnh đât hiện đang tranh châp tại thưa đât số 13, tờ bản đồ số 01 để trồng keo tràm. Anh B sư dung ổn định và không có ai tranh châp, gia đình anh đã kê khai và thực hiện đầy đủ nghĩa vu của người sư dung đât rừng sản xuât đối với chính quyên quản lý. Đến năm 2023 gia đình anh làm hàng rào và chuyển sang trồng cây ăn quả và cây lâm nghiệp, đến tháng 9/2023 có dự án đường C - Nam và có ảnh hưởng đến diện tích đât gia đình anh B quản lý và sư dung nên được cơ quan có thẩm quyên đên bù và công nhận đât đó là đât của gia đình anh B. Thưa đât đang tranh châp mà gia đình anh B đang sư dung đủ điêu kiện để được câp Giây chứng nhận quyên sư dung đât theo quy định tại khoản 2 Điêu 101 của Luật đât đai năm 2013. Ông H, bà L khởi kiện yêu cầu anh B phải trả lại diện tích đât lân chiếm là 2.905,3 m2 đât rừng anh B không đồng ý.
Người có quyên lợi, nghĩa vu liên quan chị Võ Thị Thanh T1 trình bày: Năm 2007, chị T1 kết hôn cùng anh B. Khi chị T1 vê làm dâu thì thây anh B đã trồng keo trên mảnh đât đang tranh châp này. Từ đó đến nay vợ chồng anh chị quản lý sư dung thưa đât để trồng keo cho đến năm 2023 anh B làm nhà và chuyển đổi sang trồng cây ăn quả. Đến tháng 4/2025 ông H và bà L mới nảy sinh tranh châp thưa đât trên với anh B. Quan điểm của chị T1 đê nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng anh Phan Văn H2, chị Phan Thị H1, chị Phan Thị H3 trình bày có nội dung giống lời trình bày của ông của ông H, bà L vê nguồn gốc, quá trình sư dung thưa đât có tranh châp. Anh, chị khẳng định đât đang có tranh châp có nguồn gốc do cha mẹ di dân lên T, khai hoang lập nghiệp từ năm 1994. Thời điểm cha mẹ lên khai hoang thì Phan Văn B đang nhỏ, ở lại Xuân Thủy, không tham gia cùng gia đình di dân vùng kinh tế mới. Phan Văn B đã được cha mẹ cho một thưa đât tại T và được câp giây chứng nhận năm 2008. Phần diện tích đât Phan Văn B lân chiếm hiện thuộc thưa đât số 13, tờ bản đồ số 01 tại xã T, tỉnh Quảng Trị (xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình cũ). Đê nghị Tòa án giải quyết buộc Phan Văn B trả đât lại cho cha mẹ là ông H, bà L.
Tại Bản án số 08/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điêu 26; các Điêu 35, 39, 93, 147, 157, 165, khoản 1 Điêu 227, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tung dân sự. Căn cứ các Điêu 129, 137, 184, 236 của Luật Đât đai năm 2024; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điêu 12, khoản 1 Điêu 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vu Quốc hội quy định vê mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sư dung án phí và lệ phí Tòa án, xư: Không châp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn H, bà Phạm Thị L vê việc buộc anh Phan Văn B trả lại diện tích đât rừng 2.905,3 m2 (được chỉnh lý diện tích năm 2022 là 3.572,4 m2) thuộc thưa 13, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thôn G, xã T, tỉnh Quảng Trị (thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình cũ).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên vê án phí dân sự sơ thẩm, vê chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, quyên kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 21/8/2025, nguyên đơn ông Phan Văn H, bà Phạm Thị L có đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ Bản án số 08/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị vì cho rằng Bản án số 08/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị vi phạm nghiêm trọng thủ tuc tố tung do người đại diện theo ủy quyên xin hoãn phiên tòa vì có tham gia một phiên tòa khác nhưng Tòa không hoãn phiên tòa làm ảnh hưởng quyên và lợi ích của nguyên đơn. Đê nghị toà án câp phúc thẩm xét xư lại theo hướng công nhận quyên sư dung diện tích đât 2.905,3 m2 thuộc vê nguyên đơn. Buộc anh Phan Văn B phải trả lại diện tích đât trên; xác định việc anh Phan Văn B kê khai, nhận đên bù là trái luật, yêu cầu thu hồi khoản bồi thường sai đối tượng; Yêu cầu UBND xã T xuât trình hồ sơ gốc, làm rõ trách nhiệm hành chính, dân sự của cán bộ liên quan trong việc xác nhận sai nguồn gốc đât.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H và đại diện theo ủy quyên của bà L giữ nguyên các nội dung trong đơn kháng cáo. Ông H trình bày nguồn gốc thưa đât có tranh châp do vợ chồng ông H, bà L lên khai hoang theo chính sách di dân từ năm 1994. Ông bà sư dung trồng keo tràm nhiêu lứa. Năm 2007, Phan Văn B lập gia đình nên mượn ông bà phần đât này để trồng keo tràm. Nay ông kháng cáo yêu cầu sưa án sơ thẩm, châp nhận yêu cầu khởi kiện của ông để buộc Phan Văn B phải trả lại phần đât nói trên.
Bị đơn anh Phan Văn B và người có quyên lợi và nghĩa vu liên quan là chị T1 vợ anh B đê nghị không châp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện UBND xã T trình bày: Các hộ dân ở xã X di dân lên vùng kinh tế mới ở Trường T từ trước năm 1997, tuy nhiên các hộ không được giao đât theo vị trí, ranh giới cu thể. Năm 2007, tại xã T mới thực hiện đo vẽ bản đồ địa chính lần đầu tiên. Tại khu vực gia đình ông H sư dung chỉ có bốn hộ là ông H, ông H2, ông B và bà H1 đang sư dung nên đo vẽ bốn thưa theo hiện trạng, chưa có người dẫn đạc rõ ràng. Các thưa đât khác mặc dù có người dân đang sư dung nhưng chưa quy chủ cho ai. Theo sổ muc kê địa chính năm 2010 thì phần đât hiện nay có tranh châp thuộc UBND xã quản lý. Đến năm 2018 chỉnh lý bản đồ địa chính, quy chủ cho những người đang sư dung đât. Từ trước đó, anh B vẫn trồng cây nên năm 2018 quy chủ cho anh B tại thưa 13, tờ bản đồ số 01 xã T, không có ai tranh châp hay ý kiến gì. Năm 2022, có dự án xây dựng đường cao tốc Bắc Nam nên BQL dự án thực hiện việc trích đo, xác định diện tích thu hồi, diện tích bị ảnh hưởng để bồi thường giải phóng mặt bằng. Danh sách các hộ bị thu hồi đât được bồi thường đêu được niêm yết công khai tại UBND xã theo đúng quy định nhưng cũng không có ai có ý kiến phản hồi vê việc quy chủ. Đối với yêu cầu kháng cáo, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đê nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm giải quyết vu án:
Vê tố tung: Trong quá trình giải quyết vu án, người tiến hành tố tung, người tham gia tố tung đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tung Dân sự.
Vê nội dung: Đê nghị Hội đồng xét xư không châp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Văn H, bà Phạm Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2025/DS- ST ngày 20/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vu án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xư nhận định:
[1]. Vê tố tung: Xét kháng cáo của nguyên đơn cho rằng Tòa sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tuc tố tung khi tại phiên tòa lần thứ nhât đại diện của nguyên đơn đê nghị hoãn phiên tòa (vì bận tham gia một phiên tòa khác) nhưng Hội đồng xét xư không châp nhận hoãn phiên tòa nên ảnh hưởng đến quyên lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, Hội đồng xét xư thây: Theo các chứng cứ có trong hồ sơ vu án thì phiên tòa lần thứ nhât được mở vào ngày 24/6/2025. Tại phiên tòa lần thứ nhât, các đương sự có mặt trừ UBND xã T vắng mặt nên Hoãn phiên tòa, ân định thời gian mở phiên tòa vào ngày 01/7/2025. Tuy nhiên sau đó vì các lý do khách quan nên Tòa án đã ra thông báo thay đổi thời gian xét xư hai lần và phiên tòa lần 2 mở vào lúc 8 h ngày 20/8/2025. Tại phiên tòa lần 2, bị đơn (bà L) và đại diện theo ủy quyên của bị đơn vắng mặt. Tuy nhiên, người đại diện theo ủy quyên của bà L có gưi văn bản nêu ý kiến của mình để bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp cho bà L. Vì vậy, Tòa câp sơ thẩm xét xư vắng mặt bà L và người đại diện theo ủy quyên của bà L là đúng quy định tại khoản 2 Điêu 227 và khoản 3 Điêu 228 Bộ luật tố tung dân sự. Nội dung kháng cáo của nguyên đơn vê vi phạm tố tung là không có căn cứ.
[2]. Vê nội dung: Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Văn H, bà Phạm Thị L vê việc buộc anh B trả lại thưa đât số 13, tờ bản đồ 01 tại thôn G, xã T (Trường T cũ), tỉnh Quảng Trị, Hội đồng xét xư thây rằng: Việc ông H, bà L di dân lên xã T năm 1997 và đã phát cây dại trồng keo tràm, làm nhà sinh sống tại thôn G, xã T (cũ) là có thật. Gia đình ông đã được câp giây chứng nhận quyên sư dung đât năm 2008. Phần diện tích tranh châp thuộc thưa 13, tờ bản đồ 01 chưa được câp giây chứng nhận quyên sư dung đât. Theo các chứng cứ ông H xuât trình là thẻ di dân, đơn xin nhận đât 15 ha có xác nhận của UBND xã X (xã ông H sinh sống trước khi di dân) thì không có loại giây tờ gì xác định diện tích cu thể, vị trí đât ông H, bà L được giao tại thời điểm di dân lên Trường T3. Hơn nữa, Đại diện UBND xã T khẳng định năm 2007 xã T mới thực hiện đo đạc bản đồ địa chính đầu tiên nhưng không dẫn đạc cu thể, phần đât hiện có tranh châp theo sổ muc kê địa chính năm 2010 thuộc quản lý của UBND xã T. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H trình bày anh B mượn đât của ông để trồng cây từ năm 2007 nhưng cũng không chứng minh được việc mượn đât. Theo sổ muc kê địa chính năm 2018 thưa đât hiện có tranh châp quy chủ cho anh B. Người sư dung đât phải có nghĩa vu kê khai đăng ký đât với cơ quan nhà nước có thẩm quyên. Ông H cho rằng thưa đât 13, tờ bản đồ 01 ông sư dung nhưng không có chứng cứ chứng minh quyên sư dung đât. Án sơ thẩm không châp nhận yêu cầu của ông H buộc anh B trả lại thưa đât nói trên là có căn cứ. Vì vậy, không châp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị.
[3]. Vê án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Văn H, bà Phạm Thị L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điêu 308 Bộ luật tố tung dân sự, khoản 9 Điêu 26; các Điêu 35, 39, 93, 147, 157, 165, khoản 1 Điêu 227, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tung dân sự; các Điêu 129, 137, 184, 236 của Luật Đât đai năm 2024; điểm đ khoản 1 Điêu 12, khoản 1 Điêu 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vu Quốc hội quy định vê mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sư dung án phí và lệ phí Tòa án, xư:
1. Không châp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Văn H, bà Phạm Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị.
2. Vê án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Văn H, bà Phạm Thị L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKS ND tỉnh Quảng Trị;
- THADS tỉnh Quảng Trị;
- TAND KV4;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vu án, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Từ Thị Hải Dương
