TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 35/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29-11-2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh.
Ông Hoàng Thế Công
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị K Oanh - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Thắng – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 199/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2019 về “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Bùi Đình K, sinh năm 1975. Nơi ĐKHKTT: Xóm 1, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Chị Bành Thị B, sinh năm 1991. Nơi ĐKHKTT: Xóm 1, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13/8/2019, Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, anh Bùi Đình K trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Bành Thị B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 04/3/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị B không có trách nhiệm trong việc chăm lo và xây dựng hành phúc gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và từ tháng 8/2019 đến nay, chị B tự ý bỏ về sinh sống cùng với bố mẹ đẻ, đi đâu làm gì anh không biết. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Bành Thị B.
Về con chung: Anh và anh Bành Thị B có 02 con chung là Bùi Tuấn S, sinh ngày 10/5/2014 và Bùi Tuấn Kh, sinh ngày 26/11/2015, hiện đang do anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung đến khi con đủ tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía Bị đơn chị Bành Thị B: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị B đều vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mà không có lý do.
Quá trình thu thập tài liệu chứng cứ qua xác minh tại mẹ đẻ của chị B và tại địa phương nơi anh Bùi Đình K và chị Bành Thị B cư trú thì được biết: Anh K và chị B có hộ khẩu đăng ký thường trú tại xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An. Anh K, chị B có đăng ký kết hôn và sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại xóm 1, xã X. Thời gian gần đây thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không năm rõ. Việc anh K làm đơn xin ly hôn thì gia đình đã nhận các thông báo của Tòa án và thông báo lại chị B biết nhưng vì lý do công việc không đến Tòa án để trực tiếp giải quyết việc ly hôn với anh K.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Về hôn nhân: Cho anh Bùi Đình K và chị Bành Thị B được ly hôn. Về con chung: Giao 02 con chung là Bùi Tuấn S, sinh ngày 10/5/2014 và Bùi Tuấn Kh, sinh ngày 26/11/2015 cho anh Bùi Đình K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị B do anh K chưa yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu, Bị đơn không có ý kiến nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn anh Bùi Đình K yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Bành Thị B có hộ khẩu thường trú tại xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An, nên đây là vụ án Tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn chị Bành Thị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị B cố tình vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án. Anh K có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt Bị đơn theo đúng quy định.
[2]. Về hôn nhân: Anh Bùi Đình K và chị Bành Thị B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 04/3/2010, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, chị B không chăm lo xây dựng hành phúc gia đình, mặc dù anh đã nhiều lần khuyên nhủ để chị B thay đổi tình tình nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Hiện tại, anh K khẳng định vợ chồng không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Bành Thị B. Quá trình giải quyết vụ án, chị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, không hợp tác làm việc với Tòa án, không có ý thức hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Xét thấy, cuộc hôn nhân đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của anh K, giải quyết cho anh Bùi Đình K được ly hôn với chị Bành Thị B.
[3]. Về con chung: Quá trình chung sống, anh K và chị B có 02 người con chung là Bùi Tuấn S, sinh ngày 10/5/2014 và Bùi Tuấn Kh, sinh ngày 26/11/2015; hiện tại anh K là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung. Ly hôn, anh K có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên là nghĩa vụ và quyền của cha mẹ; nguyện vọng được trực tiếp nuôi 02 con chung của anh K là chính đáng. Tuy nhiên, việc giao con cho ai là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần xem xét đến các điều kiện để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt tốt nhất cho con. Hội đồng xét xử thấy rằng, từ trước đến nay, anh K là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con phát triển khỏe mạnh, bình thường; hiện tại anh K có việc làm, có thu nhập và nơi ở ổn định; quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc nhưng chị B đều vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ chị B đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ nuôi con chung của mình; không có trách nhiệm đối với các con. Vì vậy, để cuộc sống của các con không bị xáo trộn, không bị ảnh hưởng đến tâm, sinh lý, nhằm đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt cho con, cần tiếp tục giao các con chung cho anh K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành là phù hợp, có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Chị Bành Thị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, do anh K chưa yêu cầu chị B cấp dưỡng nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị B.
[5]. Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Anh Bùi Đình K không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị Bành Thị B không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp chị Bành Thị B yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.
[6]. Về án phí: Anh Bùi Đình K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
[7]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Đình K.
1. Về hôn nhân: Cho anh Bùi Đình K và chị Bành Thị B được ly hôn.
2. Về con chung: Giao 02 con chung là Bùi Tuấn S, sinh ngày 10/5/2014 và Bùi Tuấn Kh, sinh ngày 26/11/2015 cho anh Bùi Đình K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Bành Thị B do anh K chưa yêu cầu. Chị Bành Thị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Anh Bùi Đình K phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002326 ngày 23/8/2019 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Nghệ An (anh K đã nộp đủ tiền án phí).
4. Về quyền kháng cáo: Anh Bùi Đình K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Bành Thị B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- VKSND huyện N;
- Các đương sự
- Chi Cục THADS huyện N;
- TAND tỉnh Nghệ An;
- VKSND tỉnh Nghệ An
- UBND xã X, h. N;
- Lưu HSVA; VPTA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Huy Mạnh
