TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN
Bản án số:76/2019/LĐ-ST
Ngày: 05 - 11 - 2019
V/v tranh chấp “Đòi tiền lương”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông La Văn Việt – Cán bộ hưu trí.
2. Bà Nguyễn Thị Rạt – Phó chủ tịch liên đoàn lao động huyện Đức Hòa.
- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2019/TLST-LĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019 về việc tranh chấp “Đòi tiền lương” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2019/QĐXXST-LĐ ngày 23 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu vực 1, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Công ty cổ phần mía đường HH.
Địa chỉ: Khu vực 1, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Arunachalam Mohan K (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/8/2019 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Văn L trình bày như sau:
Ông vào làm việc tại Công ty cổ phần mía đường HH từ năm 1997 đến tháng 4/2016 thì Công ty ngưng hoạt động cũng không thông báo gì cho người lao động và không chi trả tiền lương. Nay ông khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần mía đường HH chi trả cho ông các khoản tiền sau:
1/ Tiền lương từ tháng 9/2016 đến tháng 9/2018 là 177.908.760 đồng.
2/ Tiền trợ cấp thôi việc theo quyết định 04-2019 là 26.142.050 đồng
3/ Tiền lương chờ việc từ ngày 11/9/2018 đến tháng 7/2019 là 38.913.000 đồng.
Tổng cộng là 242.963.810 đồng (Hai trăm bốn mươi hai triệu chín trăm sáu mươi ba ngàn tám trăm mười đồng).
Đối với đại diện Công ty cổ phần mía đường HH có ý kiến phản hồi thống nhất trả tiền nêu trên cho ông L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa phát biểu quan điểm như sau:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xứ nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Ngày 08 tháng 10 năm 2019, ông Lê Văn L nộp đơn khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần mía đường HH trả tiền lương, quan hệ tranh chấp là tranh chấp về “Tiền lương” và đã thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động nhưng kết quả hòa giải không thành theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn công ty cổ phần mía đường HH có địa chỉ trụ sở tại khu vực 1, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, nguyên đơn ông Lê Văn L có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định. Bị đơn công ty cổ phần mía đường HH có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nhưng không đến Tòa án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa, bị đơn công ty cổ phần mía đường HH vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện:
Ông Lê Văn L yêu cầu Công ty cổ phần mía đường HH trả tiền lương còn nợ là:
-Tiền lương từ tháng 9/2016 đến tháng 9/2018 là 177.908.760 đồng.
-Tiền trợ cấp thôi việc theo quyết định 04-2019 là 26.142.050 đồng
-Tiền lương chờ việc từ ngày 11/9/2018 đến tháng 7/2019 là 38.913.000 đồng.
Tổng cộng là 242.963.810 đồng (Hai trăm bốn mươi hai triệu chín trăm sáu mươi ba ngàn tám trăm mười đồng).
Căn cứ vào bảng chấm công do ông L xuất trình đến hết ngày 28/02/2019 và quyết định chấm dứt hợp đồng lao động ngày 01/8/2019, có căn cứ xác định ông L vẫn còn làm việc cho Công ty cổ phần mía đường HH tại thời điểm 28/02/2019, nghỉ chờ quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đến hất tháng 7/2019 nhưng Công ty Cổ phần mía đường HH chưa thanh toán tiền lương cho ông L là vi phạm nguyên tắc trả lương theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Lao động. Bị đơn công ty cổ phần mía đường HH thống nhất trả cho ông L số tiền trên nên ghi nhận.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3]. Về án phí: Công ty cổ phần mía đường HH phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 483, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 90, 96, 98 Bộ luật Lao động năm 2012; Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L đối với Công ty cổ phần mía đường HH về việc tranh chấp “Tiền lương”.
Buộc Công ty cổ phần mía đường HH có trách nhiệm trả cho ông L là 242.963.810 đồng (Hai trăm bốn mươi hai triệu chín trăm sáu mươi ba ngàn tám trăm mười đồng).
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn Công ty cổ phần mía đường HH nộp 7.288.914 đồng án phí lao động sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ các đương sự được quyền kháng cáo.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
-Các đương sự;
-VKSND huyện Đức Hòa;
-TAND tỉnh Long An;
- Chi cục THADS huyện
Đức Hòa;
- Lưu HS.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Mộng Thúy
