TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 19-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-9- 2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp vê nuôi con”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thanh phân Hôi đông xet xư sơ thâm gôm co:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Tấn Bình;
Ông Đoàn Văn Phúc.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đai diên Viên Kiêm sat nhân dân dân khu vực 19 – Thành phố Hô Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang – Kiêm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại tru sơ Toà án nhân dân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh xet xư sơ thâm công khai vu án hôn nhân và gia đình thu lý số 07/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2025 vê Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vu án ra xét xư số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2025, giưa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Tuyết N, sinh năm 1998; nơi cư trú: ấp Thị, xã An Phong, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã An Long, tỉnh Đồng Tháp); nơi tạm trú: tổ 11, ấp Bàu Bàng, xã Bàu Bàng, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1994; nơi cư trú: ấp Thị, xã An Phong, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã An Long, tỉnh Đồng Tháp); nơi tạm trú: tổ 11, ấp Bàu Bàng, xã Bàu Bàng, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khơi kiện và quá trình tố tung, nguyên đơn bà Võ Thị Tuyết N trình bày:
Vê hôn nhân: Bà Võ Thị Tuyết N và ông Võ Văn H tự nguyện tìm hiêu, tự nguyện tiến tới hôn nhân. Bà N và ông H có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Phong, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 142 ngày 31 tháng 12 năm 2020.
Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đầu năm 2023, bà N và ông H bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung vê kinh tế gia đình. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau mà bản thân mỗi người tự lo cho riêng. Bà N và ông H không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, muc đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông H.
Vê con chung: Bà N khai vợ chồng có hai con chung Võ Ngọc Khánh Vân, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2021 và cháu Võ Ngọc Khánh Vy, sinh ngày 20 tháng 7 năm 2023, hiện hai con chung sống với bà N. Bà yêu cầu được nuôi hai con chung, yêu cầu ông H cấp dưỡng mỗi tháng một cháu 3.000.000 đồng.
Ngày 13 tháng 8 năm 2025, nguyên đơn bà N có đơn xin rút lại một phần cấp dưỡng nuôi con, bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Vê tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Bà N không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tung, bị đơn ông Võ Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ Nêu lần đê lấy lời khai, tham gia phiên họp kiêm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng đêu vắng mặt không có lý do và không có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt không ghi nhận ý kiến.
Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
Đại diện Viện kiêm sát nhân dân tham gia phiên tòa phát biêu ý kiến:
Vê tố tung: Từ khi thu lý vu án đến khi khai mạc phiên tòa, Thâm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tuc tố tung theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vu án ra xét xư, vu án còn trong thời hạn chuân bị xét xư theo điêm a khoản 1 Điêu 203 Bộ luật Tố tung dân sự. Tại phiên tòa sơ thâm, Hội đồng xét xư đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Vê nội dung: yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đê nghị Hội đồng xét xư chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vu án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tung. Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
[1] Vê tố tung:
[1.1] Vê thâm quyên giải quyết: Bà Võ Thị Tuyết N khơi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Võ Văn H nên quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp ly hôn. Bị đơn ông Võ Văn H có đăng ký tạm trú tại tổ 11, ấp Bàu Bàng, xã Bàu Bàng, Thành phố Hồ Chí Minh nên vu án thuộc thâm quyên giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điêu 28; điêm a khoản 1 Điêu 35 và điêm a khoản 1 Điêu 39 của Bộ luật Tố tung dân sự.
[1.2] Vê tố tung: Bị đơn ông Võ Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do là chưa thực hiện đúng quy định vê quyên và nghĩa vu của mình theo quy định pháp luật, nguyên đơn bà N có đơn xin xet xư vắng mặt. Hội đồng xét xư căn cứ Điêu 227; khoản 1, khoản 3 Điêu 228 Bộ luật Tố tung dân sự xét xư vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[1.3] Nguyên đơn có đơn xin rút lại một phần yêu cầu vê cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xư đình chỉ một phần yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điêu 244 Bộ luật Tố tung dân sự.
[2] Vê quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Tuyết N và ông Võ Văn H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Phong, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 142 ngày 31 tháng 12 năm 2020 nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông H do bà N và ông H đêu không quan tâm đến gia đình, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã. Từ năm 2023, bà N và ông H không còn chung sống với nhau cho đến nay, không quan tâm đến nhau và không có biện pháp hàn gắn cuộc sống hôn nhân. Hơn nưa, quá trình tố tung, ông H được Tòa án triệu tập hợp lệ Nêu lần nhưng vắng mặt không có lý do, bỏ mặc không tham gia tố tung, không trình bày ý kiến tại Tòa án đối với yêu cầu khơi kiện của bà N. Xét thấy, bà N và ông H là vợ chồng nhưng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không sống chung với nhau là không thực hiện đúng nghĩa vu của vợ chồng theo quy định tại Điêu 19 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vợ chồng không quan tâm đến nhau và không có biện pháp hàn gắn cuộc sống hôn nhân nên yêu cầu khơi kiện của bà N xin ly hôn với ông H là phù hợp quy định tại khoản 1 Điêu 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Vê con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung cháu Võ Ngọc Khánh Vân, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2021 và cháu Võ Ngọc Khánh Vy, sinh ngày 20 tháng 7 năm 2023, hiện hai con chung sống với bà N. Xét bà N có công việc ổn định, có thu nhập hàng tháng đủ điêu kiện nuôi con. Ông H không đến Tòa trình bày ý kiến và yêu cầu gì đối với con chung nên Hội đồng xét xư giao con chung cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xư không xem xét.
[4] Vê tài sản chung, nợ chung: các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xư không xem xét.
[5] Ý kiến của Kiêm sát viên tham gia phiên tòa vê nội dung vu án là có cơ sơ nên Hội đồng xét xư chấp nhận.
[6] Vê án phí sơ thâm: nguyên đơn phải chịu án phí sơ thâm theo quy định tại khoản 4 Điêu 147 Bộ luật Tố tung dân sự; khoản 1 Điêu 6 và điêm a khoản 5 Điêu 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vu Quốc hội quy định vê mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sư dung án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các le trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điêu 28; điêm a khoản 1 Điêu 35; điêm a khoản 1 Điêu 39; khoản 4 Điêu 147; khoản 1, điêm b khoản 2 Điêu 227; khoản 1, khoản 3 Điêu 228; khoản 2 Điêu 244; Điêu 266; Điêu 271 và Điêu 273 của Bộ luật Tố tung dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điêu 56 và Điêu 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điêu 6 và điêm a khoản 5 Điêu 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vu Quốc hội quy định vê mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sư dung án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xư:
1. Chấp nhận yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Tuyết N đối với bị đơn ông Võ Văn H vê việc ly hôn.
- Vê quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giưa bà Võ Thị Tuyết N và ông Võ Văn H.
- Vê con chung: Giao cháu Võ Ngọc Khánh Vân, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2021 và cháu Võ Ngọc Khánh Vy, sinh ngày 20 tháng 7 năm 2023 cho bà Võ Thị Tuyết N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyên, nghĩa vu thăm nom con mà không ai được cản trơ. Trường hợp người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dung việc thăm nom con đê cản trơ hoặc gây ảnh hương xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo duc con thì người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyên yêu cầu Tòa án hạn chế quyên thăm nom con của người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Vì quyên và lợi ích hợp pháp của con chung, Tòa án có thê thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật
- Vê chia tài sản chung, nợ chung: các đương sự không tranh chấp vê tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xư không giải quyết.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn vê yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Đương sự có quyên khơi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vu án vê vấn đê cấp dưỡng theo quy định tại khoản 1 Điêu 218 của Bộ luật Tố tung dân sự.
3. Vê án phí sơ thâm: Bà Võ Thị Tuyết N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thâm nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 6423 ngày 02 tháng 6 năm 2025 Chi cuc Thi hành án Dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyên kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày nhận được bản án hoặc kê từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
- TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
- VKSND Khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí
Minh;
- Phòng THADS Khu vực 19 - Thành phố
Hồ Chí Minh;
- Người tham gia tố tung;
- UBND xã An Phong, huyện Thanh Bình,
tỉnh Đồng Tháp;
- Cổng thông tin điện tư Tòa án (nếu có);
- Lưu hồ sơ, Văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Đăng Khoa
