TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC A
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1445/2025/DS–ST
Ngày: 30-9-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Chí
Bà Trần Thị Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân
dân khu vực A – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực A – Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực A – Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 366/2025/TLST-
DS ngày 13 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1870/2025/QĐXXST–DS ngày 18 tháng 8
năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2771/2025/QĐST–DS ngày 08
tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ trụ sở: Số A đường Nam Kỳ
Khởi N, phường Xuân H, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Dương Văn T; Địa chỉ:
Số A đường Nam Kỳ Khởi N, phường Xuân H, Thành phố Hồ Chí Minh; Văn
bản ủy quyền ngày 24/12/2024. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh C; Địa chỉ: Số B đường Phan V, phường
Hạnh T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người
đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có người đại diện hợp
pháp ông Dương Văn T trình bày:
Ông Nguyễn Mạnh C có vay vốn tại Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt
là “S”) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 15/9/2022 và
bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng
(gọi chung là hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng), cụ thể: Số thẻ 2472074-0073, loại
thẻ Visa, hạn mức 50.000.000 đồng, lãi suất 2,766%/tháng.
Quá trình sử dụng thẻ ông C thực hiện các giao dịch với tổng số tiền
55.927.700 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và
theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của
Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân
hàng). Ông C phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 25 của Bản Điều
khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ông C đã
thanh toán 16.783.575 đồng, thứ tự thanh toán theo Điều 21 của bản Điều khoản
và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc
thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
+ Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
+ Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
+ Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
+ Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
+ Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
+ Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ
Ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 11/8/2023, Ngân hàng đã chấm
dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn
(Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của
Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ là 58.105.356 đồng thành nợ
gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng
tại thời điểm hiện tại).
Tính đến ngày 30/9/2025, ông C còn nợ 120.946.876 đồng, trong đó: Nợ
gốc 58.105.356 đồng, lãi quá hạn 62.841.520 đồng (lãi suất quá hạn
2,766%x150%= 4,14%/tháng).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở, ông C vẫn không có thiện chí trả nợ.
Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông C phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày
30/9/2025 là 120.946.876 đồng, trong đó: Nợ gốc 58.105.356 đồng, lãi quá hạn
62.841.520 đồng.
Ông C phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/10/2025
cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Toà án đã tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc
thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Thông báo về kết quả phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án
ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập tham gia phiên toà đối với
bị đơn là ông C nhưng ông C đều vắng mặt không có lý do.
Do ông C vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa
ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa,
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông T vắng mặt (có đơn yêu cầu
vắng mặt). Bị đơn ông C vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực A – Thành phố Hồ Chí Minh
phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà kể từ khi thụ lý vụ án cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia
tố tụng dân sự: Nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ
tục tố tụng:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện ông Nguyễn Mạnh C phải trả
số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín
dụng”. Theo kết quả xác minh của Công an Phường 10, quận G thì ông C không
đăng ký tạm trú, không thực tế cư trú tại địa chỉ 4.02 CH2, Cityland, Phan Văn
Trị, Phường 10, quận G và của Công an Phường 01, quận G thì ông C có hộ
khẩu thường trú tại địa chỉ B đường Phan V, quận G, nhưng thực tế không có cư
ngụ tại đại chỉ trên đã chuyển đi đâu không rõ. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân quận G, nay là Tòa án nhân dân khu vực A –
Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản
2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật
tố tụng hành chính, Luật tư pháp của người chưa thành niên, Luật phá sản và
Luật tổ chức hòa giải, đối thoại tại tòa án năm 2025.
Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ
án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử;
Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập tham gia phiên toà đối với ông C theo
đúng quy định tại Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
nhưng ông C vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân
sự.
Nguyên đơn có người đại diện hợp pháp ông T vắng mặt (có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định
tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Căn cứ Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét
xử chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi vấn đề đương sự có yêu cầu, những
vấn đề liên quan đến vụ án đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không
giải quyết.
Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương
sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng
cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo
những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Trong vụ án này,
bị đơn ông C vắng mặt, không đến tòa, không trình bày ý kiến, không cung cấp
tài liệu, chứng cứ, coi như đã từ bỏ quyền được chứng minh của mình nên Hội
đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét,
giải quyết.
[2.2] Ngân hàng yêu cầu ông C thanh toán ngay số tiền nợ tính đến ngày
30/9/2025 là 120.946.876 đồng, bao gồm: Nợ gốc 58.105.356 đồng, nợ lãi quá
hạn 62.841.520 đồng; Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín
dụng kiêm hợp đồng ngày 15/9/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành
và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), cùng lời trình bày của nguyên đơn và
các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đủ cơ sở xác định Ngân hàng đã cấp thẻ
tín dụng cho ông C, số thẻ 2472074-0073, loại thẻ Visa, hạn mức tín dụng là
50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,766%/ tháng.
Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng
số tiền là 55.927.700 đồng, đã thanh toán 16.783.575 đồng. Do ông C vi phạm
nghĩa vụ thanh toán tại Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử
dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng nên ngày 11/8/2023, Ngân hàng đã
chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 58.105.356
đồng thành nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn 150% của lãi suất được công bố
và áp dụng tại thời điểm hiện tại là 4,14%/tháng (2,766%x150%) phù hợp với
Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá
nhân của Ngân hàng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30/9/2025, tiền lãi quá
hạn là 62.841.520 đồng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông C phải thanh toán số nợ
120.946.876 đồng, bao gồm: Nợ gốc 58.105.356 đồng, nợ lãi quá hạn 62.841.520
đồng hoàn toàn có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 91 và Điều 95 của
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Ông C còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 01/10/2025 theo mức lãi
suất được thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh
toán xong toàn bộ khoản nợ.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.738.455 đồng.
Nguyên đơn không phải chịu án phí, trả lại 1.848.638 đồng tiền tạm ứng
án phí cho nguyên đơn.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.047.344 đồng.
Nguyên đơn không phải chịu án phí, trả lại 2.278.333 đồng tiền tạm ứng
án phí cho nguyên đơn.
[5] Về nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6;
7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 91, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 271,
Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1
của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng
hành chính, Luật tư pháp của người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật tổ
chức hòa giải, đối thoại tại tòa án năm 2025;
Điều 4, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm
2010;
Luật phí và lệ phí;
Luật thi hành án dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí, lệ phí Tòa án;
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp
luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc ông Nguyễn Mạnh C chịu trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng
TMCP S số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2025 là 120.946.876
đồng, bao gồm: Nợ gốc 58.105.356 đồng, nợ lãi quá hạn 62.841.520 đồng; ngay
sau khi bản án có hiệu lực pháp luật; theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm
hợp đồng ngày 15/9/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử
dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
ông Nguyễn Mạnh C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh
lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được
tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Mạnh C phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 6.047.344 đồng.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP S tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.278.333 đồng theo Biên lai thu số 0072122 ngày 13/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy
định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND TP.HCM;
- VKSND khu vực A – TP.HCM;
- THADS TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Hồng Cúc
