Múa sư tử của người Tày, Nùng là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian, phân bố tại Lạng Sơn, được ghi danh vào Danh mục quốc gia năm 2017.
| Tiêu chí | Nội dung |
|---|---|
| Tên di sản | Múa sư tử của người Tày, Nùng |
| Loại hình (Luật 2024) | Nghệ thuật trình diễn dân gian — khoản 2 Điều 10 |
| Loại hình ghi trong quyết định | Nghệ thuật trình diễn dân gian |
| Tỉnh, thành phố hiện hành | Lạng Sơn |
| Địa bàn cụ thể | Lạng Sơn |
| Dân tộc chủ thể | Người Tày |
| Quyết định công bố | 1852/QĐ-BVHTTDL ngày 08/05/2017 |
| Năm ghi danh | 2017 |
| Số thứ tự trong Danh mục | 213 |
Múa sư tử được du nhập, tồn tại và phát triển ở Lạng Sơn nói riêng và Việt Nam nói chung trong quá trình di cư hoặc giao lưu văn hóa các tộc người khu vực biên giới. Sau khi du nhập, múa sư tử tiếp biến, giao thoa, dung hợp với các yếu tố văn hóa bản địa, kết hợp nghệ thuật võ cổ truyền, múa dân gian, múa dân tộc… dần biến đổi và từng bước cấu thành, định hình phương thức, cách thức biểu diễn phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng tại địa phương. Trải qua thăng trầm lịch sử, múa sư tử vẫn tồn tại, bảo tồn và phát triển trong đời sống tinh thần của người dân từ thế hệ này sang thế hệ khác và thường được trình diễn trong các ngày: Tết cổ truyền, Lễ hội lồng tồng,.. Múa sư tử của người Tày, Nùng (tỉnh Lạng Sơn) là khát vọng của con người về một cuộc sống tốt đẹp, đồng thời, thể hiện tinh thần đấu tranh của họ chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, xua đuổi tà ma và ác quỷ, cầu mong sự ấm no, hạnh phúc. Các nghi lễ, trò diễn trong múa sư tử thể hiện sự giao hòa giữa trời, đất, nước, đạo lý uống nước nhớ nguồn, cầu mong cuộc sống tốt đẹp, cách ứng xử giữa người với người, người với thiên nhiên và con người với xã hội… Các đạo cụ dùng múa sư tử thể hiện thị hiếu thẩm mỹ, tài năng lao động sáng tạo, của các nghệ nhân, chủ thể văn hóa, phản ánh sinh động nhân sinh quan, thế giới quan, tư tưởng, tình cảm và khát vọng của đồng bào Tày, Nùng đối với thiên nhiên, xã hội và cuộc sống, góp phần gắn kết cộng đồng làng bản hoặc liên làng bản, đặc biệt ở tục kết “lạo tồng” (kết bạn thân).
Đoạn giới thiệu trích từ bộ dữ liệu mở Open Development Vietnam — Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của các dân tộc thiểu số, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn gốc: http://dsvh.gov.vn/mua-su-tu-cua-nguoi-tay,-nung-1365.
Cùng chủ thể là người Tày, cùng địa bàn hoặc cùng loại hình với Múa sư tử của người Tày, Nùng.
Căn cứ pháp lý: Luật Di sản văn hóa 2024 (số 45/2024/QH15) và Nghị định 215/2025/NĐ-CP. Các cột loại hình theo luật hiện hành, tỉnh/thành sau sắp xếp 2025 và dân tộc chủ thể là phần đối chiếu do công cụ bổ sung.