Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"1. Cầm cố tài sản là một bên dùng động sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bên kia (Điều 329 đến 345 Bộ luật dân sự). 2. Việc cầm cố tài sản phải lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính (như trường hợp vay nợ) và phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền, nếu có sự thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Nếu tài sản mà pháp luật quy định phải đăng kí quyền sở hữu thì việc cầm cố phải đăng kí. 3. Tài sản cầm cố được giao cho bên cầm cố, nhưng nếu là tài sản có đăng kí quyền sở hữu thì các bên có thể thoả thuận giao cho bên cầm cố giữ hoặc giao cho bên thứ ba giữ (như tài sản đang cho người khác thuê). 4. Bên cầm cố có các quyền và nghĩa vụ sau đây: a. Giao giấy tờ sở hữu tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố; đăng kí việc cầm cố nếu tài sản cầm cố phải đăng kí quyền sở hữu. b. Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố, trừ khi hai bên có sự thỏa thuận khác; nếu bên cầm cố vẫn giữ tài sản cầm cố thì phải bảo quản, giữ gìn và không được sử dụng tài sản đó nêu không được bên nhận cầm cố đồng ý. c. Được trả lại tài sản cầm cố sau khi đã thực hiện nghĩa vụ và có quyền đòi bồi thường nếu bên nhận cầm cố làm mất hoặc làm giảm giá trị tài sản cầm cố. 5. Bên nhận cầm cố có quyền và nghĩa vụ: a. Bảo quản, giữ gìn tài sản được giao và không được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ phi hai bên có sự thoả thuận khác. b. Trả lại giấy tờ và tài sản cầm cố khi người cầm cố đã hoàn thành nghĩa vụ. 6. Khi đã hết hạn hoàn thành nghĩa vụ mà bên cầm cố không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản cầm cố được xử lí theo phương thức hai bên đã thỏa thuận như gia hạn trả nợ và trả lãi hoặc bên cầm cố bán tài sản cho bên nhận cầm cố, hoặc bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ."