TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số: 02/2018/HS-ST
Ngày 04 tháng 01 năm 2018.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lệ
Hội thẩm nhân dân: Ông Pham Hung Cương
Bà Thái Thị My
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ái Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2018, tai trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2017/HS- ST ngày 25 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2017/HSST- QĐ ngày 25 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:
Bui Thị Ánh H, sinh năm 1985 tai Khánh Hòa; Nơi cư tru: Số 07 Nguyễn Khắc D, tổ dân phố P 3, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; giới tinh: Nư; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Bui Hồng H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1959); co con Bui Hải L, sinh năm 2006 và Bui Hải L, sinh ngày 01/5/2016; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 01/6/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa xử phat 08 năm 06 tháng tu về tội “Mua bán trái phép chất ma tuy”; bị cáo hiện đang thi hành án tai Trai giam A2 (Tổng cục VIII, Bộ công an); co mặt.
- Ngươi co quyên lơi, nghia vu liên quan: Ông Võ Đình H, sinh năm 1983
Địa chỉ: 206/6 Lê Hồng P, phương H, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Ngươi làm chứng: Ông Đỗ Huy H, sinh năm 1998
Địa chỉ: Tổ 22 Hòn C, phương V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu co trong hồ sơ vụ án và diễn biến tai phiên tòa, nội dung vụ án đươc tom tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 7/2017, Bui Thị Ánh H liên lac qua mang xã hội với một ngươi tên D (không xác định đươc nhân thân, lai lịch) ở tai Đ, tỉnh Lâm Đồng để mua ma tuy sử dụng. Sau đo, H đến khách san Lục Ngọc Bảo tai số 11 M, thành phố N để mua ma tuy của D mang từ Đ xuống với giá 4.500.000đ. H mang bịch ma tuy về nhà (tai Tổ dân phố P 3, thị trấn D) cất giấu để sử dụng dần.
Vào luc 10 giơ 30 phut ngày 19/7/2017, Công an huyện D phát hiện Võ Đình H (tru tai số 206/6 Lê Hồng P, phương H, thành phố N) co biểu hiện nghi vấn về ma tuy nên mơi về trụ sở làm việc. Tai Công an huyện D, Đình H khai nhận đến nhà Ánh H để trả bánh xe ô tô thì đươc Ánh H mơi sử dụng ma tuy cung với Ánh H và Đỗ Huy H (tru tai Tổ 22 Hòn C, phương V, thành phố N) nhưng Đình H không sử dụng và đi về.
Căn cứ vào lơi khai của Đình H, vào luc 17 giơ 00 ngày 19/7/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện D tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Ánh H (tai tổ dân phố P 3, thị trấn D) thu giư 3,5903 gam tinh thể màu trắng; 03 bộ sử dụng ma tuy đá cung một số đồ vật khác.
Bản kết luận giám định số 349 ngày 24/7/2017 của Phòng ky thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Tinh thể màu trắng trong mâu ký hiệu A, gửi giám định là ma tuy, co khối lương 3,5903 gam là loai Methamphetamine.
Bản cáo trang số 79/CT-VKS ngày 17/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo Bui Thị Ánh H về tội “Tàng trư trái phép chất ma tuy” đươc quy định tai khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và các quy định co lơi cho bị cáo tai khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tai phiên tòa, đai diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa vân giư nguyên quyết định truy tố bị cáo Bui Thị Ánh H về tội “Tàng trư trái phép chất ma tuy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và quy định co lơi cho bị cáo tai khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phat bị cáo Bui Thị Ánh H từ 18 tháng đến 24 tháng tù, tổng hơp hình phat tai bản án hình sự số 109/2017/HS-ST ngày 01/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố N đã co hiệu lực pháp luật theo quy định tai Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phat chung của hai bản án; về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 3,2856 gam Methamphetamine, 03 bộ dụng cụ sử dụng ma tuy đá, 01 bình xịt hơi cay, 01 bật lửa, trả lai cho bị cáo Bui Thị Ánh H 01 điện thoai Iphone 6S co số thuê bao 0905.209.907, 01 điện thoai Oppo bên trong co 2 sim điện thoai, 01 điện thoai Nokia màu đen co số thuê bao 0898.460.908; về án phi: Bị cáo H phải nộp án phi hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến việc giải quyết vụ án trên (về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên và Kiểm sát viên đã tiến hành đung các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung vụ án: Tai phiên toà, bị cáo Bui Thị Ánh H khai nhận toàn bộ hành vi pham tội như nội dung bản cáo trang của Viện kiểm sát nhân dân huyện D đã nêu. Lơi khai của bị cáo phu hơp với lơi khai của ngươi co quyền lơi, nghĩa vụ liên quan, ngươi làm chứng và các chứng cứ khác co trong hồ sơ vụ án nên Cáo trang số 79/CT-VKS ngày 17/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo Bui Thị Ánh H về tội “Tàng trư trái phép chất ma túy” đươc quy định tai khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là co căn cứ, đung pháp luật. Tuy nhiên, tai thơi điểm xét xử Bộ luật hình sự năm 2015 co hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội “Tàng trư trái phép chất ma tuy”, là quy định co lơi cho bị cáo H theo như hướng dân tai Nghị quyết số 41/2017/QH ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét hành vi tàng trư, vận chuyển hay mua bán trái phép chất ma tuy đều bị pháp luật nghiêm cấm và xử lý theo quy định của pháp luật hình sự. Bị cáo H biết ma tuy là vật thuộc loai nhà nước cấm lưu hành nhưng bị cáo vân ngang nhiên mua, tàng trư ma tuy để sử dụng cho bản thân mình và rủ rê ngươi khác cung sử dụng với bị cáo. Bản thân bị cáo bị Tòa án thành phố Nha Trang xử phat về tội “Mua bán trái phép chất ma tuy” nhưng bị cáo không lấy đo làm bài học cho bản thân mà tiếp tục pham tội nên pham tội lần này thuộc trương hơp tái pham đươc quy định tai điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, đối với hành vi trên của bị cáo cần phải xử lý nghiêm mới co tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tai phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phat cho bị cáo theo quy định tai điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Do bản án hình sự số 109/2017/HS-ST ngày 01/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố N đã co hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, tổng hơp hình phat, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phat chung của hai bản án.
Trong vụ án này, đối tương tên D, Cơ quan điều tra - Công an huyện D chưa xác định đươc nhân thân, lai lịch là ngươi đã bán ma tuy cho bị cáo Hồng, khi nào xác định đươc sẽ điều tra, xử lý sau.
Đối với Đỗ Huy H, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D đã xử phat vi pham hành chinh về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuy, riêng Võ Đình H do không phát hiện chất ma tuy nên không co căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[3] Về vật chứng vụ án:
+ 3,2856 Methamphetamine là vật thuộc loai Nhà nước cấm lưu hành; 03 bộ dụng cụ sử dụng ma tuy đá (trong đo co 02 bộ của bị cáo H, 01 bộ của Võ Đình H), 01 bình xịt hơi cay, 01 bật lửa là nhưng vật đươc H và Đình H sử dụng vào hành vi trái pháp luật, xét các vật trên không co giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tai điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
+ 01 điện thoai Iphone 6S co số thuê bao 0905.209.907, 01 điện thoai Oppo bên trong co 2 sim điện thoai, 01 điện thoai Nokia màu đen co số thuê bao 0898.460.908, đây là tài sản của bị cáo H, không liên quan đến hành vi pham tội của bị cáo nên cần trả lai cho bị cáo theo quy định tai khoản 1 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Về án phi: Bị cáo Bui Thị Ánh H phải nộp án phi hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1, điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thương vụ Quốc hội về án phi, lệ phi Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Bui Thị Ánh H pham tội “Tàng trư trái phép chất ma tuy”.
Xử phat: Bị cáo Bui Thị Ánh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trư trái phép chất ma tuy”. Tổng hơp hình phat 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuy” tai bản án hình sự sơ thẩm số 109/2017/HS-ST ngày 01/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố N, buộc bị cáo Bui Thị Ánh H phải chấp hành hình phat chung 10 (mươi) năm tu, thơi han tu tinh từ ngày 06/9/2017.
[2] Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu, tiêu hủy: 3,2856 gam Methamphetamine, 03 bộ dụng cụ sử dụng ma tuy đá, 01 bình xịt hơi cay, 01 bật lửa.
- Trả lai cho bị cáo Bui Thị Ánh H: 01 điện thoai Iphone 6S co số thuê bao 0905.209.907, 01 điện thoai Oppo bên trong co 2 sim điện thoai, 01 điện thoai Nokia màu đen co số thuê bao 0898.460.908.
(Đặc điểm của các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điêu tra - Công an huyện D và Chi cuc Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Khánh Hòa).
[3] Về án phí: Bị cáo Bui Thị Ánh H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phi hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo Bui Thị Ánh H co quyền kháng cáo bản án trong han 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; ngươi co quyền lơi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tai phiên tòa co quyền bản án trong han 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án đươc niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Khánh Hòa;
- VKSND huyện D;
- CA huyện D;
- Chi cục THADS D;
- Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
- Bị cáo;
- Ngươi co quyền lơi, nghĩa vụ liên
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
quan;
- Lưu HS,VP.
Nguyễn Thị Ngọc Lệ
