TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 143/2019/HS-ST
Ngày 12 - 11 - 2019
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Chí Trung.
2. Ông Trịnh Văn Chi.
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Xuân Lập – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Phạm Sỹ Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 137/2019/TLHS- HS ngày 15 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:
Bùi Văn T, sinh năm 1989 tại Hà Nội; nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị N (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18/6/2013, Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 11/9/2019, Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/7/2019 và chuyển tạm giam từ ngày 03/8/2019 đến nay; Có mặt.
* Người làm chứng: Anh Đỗ Đình H, sinh năm 1990; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 28/7/2019, Bùi Văn T đang ở nhà thì có bạn nghiện mới quen tên là S, khoảng 30 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) đến chơi, nói: “Anh em mình xuống P, anh mua quả hàng chơi”. T hiểu ý S rủ đi mua ma túy để sử dụng nên đồng ý. S điều khiển xe mô tô của S (không rõ BKS) chở T đi đến đoạn đường thuộc địa bàn tổ 1, phường T, thành phố P thì dừng xe lại bảo T: “Đứng đây đợi anh để anh đi lấy hàng”. S điều khiển xe đi, một lúc sau quay lại bảo T lên xe đi tiếp. S chở T đi được một đoạn thì S đưa cho T vỏ bao thuốc lá Vinataba màu vàng nói: “Cầm lấy bao thuốc, đồ ở trong đấy”. T đoán bên trong bao thuốc lá có ma túy nên cầm ở tay phải. S và T đi đến địa bàn tổ 9, phường T, thành phố P thì bị lực lượng Công an thành phố Phủ Lý yêu cầu dừng xe. T xuống xe thì S phóng xe bỏ chạy. T tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba màu vàng, kiểm tra phát hiện bên trong có 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ chứa chất tinh thể màu trắng và khai nhận đó là ma túy đá, mục đích cất giữ để sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Văn T, thu giữ vật chứng gồm:
- 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01); 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba màu vàng; 01 điện thoại di động OPPO màu trắng, mặt màn hình cảm ứng bị vỡ; Số tiền 1.000.000đ (niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02).
Ngày 29/7/2019, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phủ Lý thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 106 đối với chỗ ở, đồ vật, tài sản của Bùi Văn T. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 147/PC09-MT ngày 01/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận “Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,200 gam, loại Methamphetamine”.
Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKS-PL ngày 14/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý trình bày luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt với bản án số 35/2019/HS-ST ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine hoàn trả sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba màu vàng; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng và số tiền 1.000.000đ.
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn T đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 28/7/2019, tại địa bàn tổ 9, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Bùi Văn T cất giấu trái phép 0,200 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an thành phố Phủ Lý phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân rất xấu, đã 01 lần bị Tòa án có thẩm quyền xử phạt hình phạt tù về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 01 lần thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, trong thời gian được tại ngoại bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo không lấy đó làm bài học để ràn luyện, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục trượt dài vào con đường phạm tội. Do đó khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét đến những tình tiết này.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung:
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội này là cần thiết, với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, bản thân là lao động tự do, mục đích tàng trữ để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trước đó, ngày 22/4/2019, Bùi Văn T cũng đã thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2019/HS-ST ngày 11/9/2019. Do đó Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam sẽ tổng hợp hình phạt của bản án trên trong bản án này theo quy định tại Điều 55 và 56 Bộ luật Hình sự.
[6] Về các vấn đề khác của vụ án: Đối với người thanh niên tên S khoảng 30 tuổi, T khai là người đã mua ma túy và đưa cho T cất giữ để sử dụng nhưng T không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ của người này. Ngoài lời khai của T không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
[7] Xử lý vật chứng:
- Toàn bộ số ma túy cùng bao gói thu giữ của bị cáo được hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 vỏ bao thuốc lá Vinantaba màu vàng là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 1.000.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của bị cáo, đây là những tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ số tiền trên để đảm bảo công tác thi hành án.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 56; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí của Quốc hội.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Xử phạt bị cáo 30 (Ba mươi) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 30 (Ba mươi) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2019/HS-ST ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 60 (Sáu mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2019 (được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 22/4/2019 đến ngày 27/4/2019).
[3] Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba màu vàng và 01 phong bì đã niêm phong số 147/PC09-MT mặt trước phong bì ghi mẫu vật hoàn trả QT01 tại mép dán mặt sau có các chữ ký của Nguyễn Thị Lan H, Trần Thị Thu H, một chữ ký đóng dấu chức danh Trưởng phòng Trung tá Nguyễn Đại H và ba dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
- Trả lại bị cáo Bùi Văn T: Số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, mặt màn hình cảm ứng bị vỡ, có số IMEI1: 861246034870557, IMEI2: 861246034870540. Nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo công tác thi hành án.
Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 18/10/2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý và Ủy nhiệm chi số 66 lập ngày 24/10/2019).
[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hà Nam;
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
- VKSND thành phố Phủ Lý;
- CQCSĐT CA thành phố Phủ Lý;
- Chi cục THADS thành phố Phủ Lý;
- Cơ quan THAHS có thẩm quyền;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Mai Oanh
