Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Thời Pháp thuộc, căn cứ theo Sắc lệnh ngày 17/10/1887 của tổng thống Pháp và được bổ sung, hoàn chỉnh bằng các sắc lệnh tiếp theo ngày 12/11/1887, ngày 9/5/1889 và ngày 21/4/1891, toàn quyền Đông Dương là người được ủy nhiệm thi hành những quyền lực của nước Cộng hòa Pháp tại Đông Dương (quyền lực ở đây bao hàm cả quyền lập pháp đối với thuộc địa, một đặc quyền của tổng thống Pháp). Những văn bản do toàn quyền Đông Dương ký để thực hiện quyền lập pháp và quyền hành pháp của mình tại Đông Dương được gọi là nghị định. Vẫn theo các sắc lệnh nói trên, toàn quyền Đông Dương ""nắm quyền chỉ đạo tối cao và quyền kiểm soát tất cả các công sở dân sự ở Đông Dương""; những viên chức đứng đầu cấp xứ trong liên bang Đông Dương đều ""đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của toàn quyền Đông Dương"" đồng thời toàn quyền Đông Dương là người nắm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, có quyền tổ chức, chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp, ấn định chức năng, nhiệm vụ cho các cơ quan cai trị ở Đông Dương. Về mặt quân sự, Toàn quyền Đông Dương là người chịu trách nhiệm chung, có quyền tuyên bố lệnh thiết quân luật, có quyền ấn định mục đích và tính chất của cuộc chiến tranh, có quyền lập các đạo quan binh, ban hành lệnh bắt lính... song không được trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của toàn quyền Đông Dương là các viên chức thực dân cao cấp đứng đầu mỗi xứ (mỗi kỳ) thuộc Liên bang Đông Dương như thống đốc Nam Kỳ, thống sứ Bắc Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, kể cả khâm sứ Cao Miên và khâm sứ Lào. Chế độ toàn quyền Đông Dương ra đời từ tháng 10/1887 cùng với sự ra đời của Liên bang Đông Dương vào ngày 17/10/1887, bước đầu gồm 3 xứ Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Cao Miên rồi ngày 19/4/1899 thêm Lào và năm 1900 thêm Quảng Châu Loan (Trung Quốc)."
Chưa có văn bản pháp luật nào được lập chỉ mục cho thuật ngữ này.