Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Tòa án được thành lập và hoạt động theo thỏa ước ký ngày 8/8/1945 tại Lơn Đơn giữa 4 nước đồng minh thắng trận phát xít Đức gồm: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp để điều tra, xét xử những kẻ phạm tội ác chiến tranh trong Chiến tranh thế giới II (1939 - 1945). Thẩm phán, công tố viên là đại diện quân pháp của 4 nước trên được cử ra theo số lượng bằng nhau. Cơ sở pháp lý để xét xử là ""Điều ước về tòa án quân sự quốc tế do bốn nước đồng minh thắng trận quy định trên cơ sở cùng nhau thỏa thuận theo nguyên tắc pháp lý của công pháp quốc tế"". Có hai tòa án quân sự quốc tế đã được thành lập và hoạt động là Tòa án Nuyrămbe và Tòa án Tôkyô (x. Tòa án quân sự quốc tế Nuyrămbe; Tòa án quân sự quốc tế Tôkyô). Tổ chức và hoạt động của tòa án quân sự quốc tế biểu thị tinh thần quyết tâm đấu tranh bảo vệ hòa bình và sự thành công lần đầu của nhân loại trong việc dùng vũ ký pháp luật để đấu tranh và bảo vệ nguyên tắc chung sống hòa bình giữa các quốc gia, dân tộc trên trái đất. Điều ước về tòa án quân sự quốc tế và các bản án của Tòa án Nuyrămbe và Tòa án Tôkyô đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và chấp nhận trong phiên họp ngày 11/12/1946, được các Tòa án quân sự Liên Xô, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba Lan, Pháp... áp dụng để xét xử những kẻ phạm tội ác chiến tranh bị phát hiện và bắt giữ. Tòa án quốc tế Bectơrăng Rutxen (x. Tòa án Bectơrăng Rutxen) đã áp dụng những phán quyết của Tòa án quân sự quốc tế Nuyrămbe để điều tra và xét xử những tội ác chiến tranh của Mỹ đã gây ra để chống lại nhân dân Việt Nam trong chiến tranh xâm lược Đông Dương (1961 - 1975)."
Chưa có văn bản pháp luật nào được lập chỉ mục cho thuật ngữ này.