Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Một hình thức tổ chức từ lâu đời và được cộng đồng dân cư Việt Nam ưa chuộng sử dụng để giải quyết các mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi giữa những người trong gia đình, trong họ hàng, trong xóm làng. Mục đích của hòa giải là làm cho các vụ xung độ lớn, gay gắt trở thành mâu thuẫn nhỏ, các xung đột, mâu thuẫn nhỏ thì làm cho mất đi để trả lại hòa khí và sự đoàn kết cho gia đình, thôn xóm. Trong các Hương ước cổ của người Việt đều có quy định thành lập tổ hòa giải. Thành viên của tổ hòa giải là các cụ cao niên, mẫu mực trong cuộc sống làm chủ trì. Thành viên của tổ hòa giải là một chức dịch, lý trưởng hoặc phó lý và đại diện dòng họ, tộc biểu. Các bên tranh chấp có quyền không chấp nhận hòa giải và đưa ra kiện ở quan trên. Nếu quan trên xử khác tổ hòa giải xử thì người kiện không bị làng khiển trách. Nếu trên quan trên xử y như tổ hòa giải xử thì người đi kiện sẽ bị làng xử phạt. Mọi chi phí phát sinh đều do người đi kiện chịu. Theo Điều 128 - Hiến pháp năm 1980 thì ở cơ sở được thành lập các tổ hòa giải để giải quyết những việc vi phạm pháp luật nhỏ. Nhưng việc tổ chức thực hiện chưa được rộng khắp. Trong những năm gần đây do nhận thức được tác dụng tích cực nhiều mặt của tổ hòa giải nên việc tổ chức và hướng dẫn hòa giải trong nhân dân được chú trọng nhiều hơn trước.