Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Mười tội ác được quy định trọng hình luật các triều đại phong kiến xưa. Ví dụ: theo Quốc triều hình luật, quyển 1, Điều 2 - Chương danh lệ (tên gọi luật lệ), mười tội ác gồm có: 1. Mưu phản là mưu mô làm nguy hại đến xã tắc. 2. Mưu đại nghịch là mưu phá hủy tông miếu, lăng tẩm và cung điện nhà vua. 3. Mưu chống đối là mưu phản nước theo giặc. 4. Ác nghịch là đánh và mưu giết ông bà, cha, mẹ, bác, chú, thím, cô, anh, chị, em, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng. 5. Bất đạo là giết một nhà ba người không đáng tội chết, giết người chặt thây ra từng mảnh bỏ thuốc độc bùa mê. 6. Đại bất kính là ăn trộm đồ thờ trong lăng miếu, đồ ngự dụng (đồ dùng của nhà vua); làm giả ấn tín của vua; chế thuốc ngự không theo đúng phương, thuốc bao gói dễ lầm; nấu cơm cho vua mà phạm vào những món ăn cấm; không giữ gìn thuyền ngự cho được chắn chắc, chỉ trích nhà vua và đối với sứ giả nhà vua không đúng lễ bày tôi. 7. Bất hiếu là tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời cha mẹ dạy bảo; nuôi nấng thiếu thốn; có tang cha mẹ mà lại lấy vợ lấy chồng, vui chơi ăn mặc như thường; nghe thấy tang ông bà cha mẹ mà dấu, không cử ai (không tổ chức tang lễ); nói dối là ông bà cha mẹ chết. 8. Bất mục là giết quan hay đem bán những người trong họ từ hàng phải để tang 3 tháng trở lên; đánh đập và tố cáo chồng, cùng những họ hàng phải để tang 5 tháng trở lên. 9. Bất nghĩa, là giết quan bản phủ và các quan đương chức tại nhiệm; giết thầy học; nghe thấy tin chồng chết mà không cử ai (không tổ chức tang lễ) lại vui chơi ăn mặc như thường cùng là cải giá. 10. Nổi loạn là gian dâm với người trong họ từ hàng phải để trang 5 tháng trở lên, với nàng hầu của ông cha."