Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"1. Sự ngang bằng về địa vị và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân trong xã hội được pháp luật quy định. Điều 52 - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định ""mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật"". Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng quy định những quyền cơ bản của công dân tại Chương V (từ Điều 49 - 82) bao gồm các nhóm quyền về chính trị (quyền tham gia quản lý nhà nước, quyền bầu cử ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước, quyền khiếu nại, tố cáo); nhóm quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội (quyền lao động, quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, quyền học tập, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được xây dựng nhà ở, quyền bình đẳng nam nữ, quyền được bảo hộ về hôn nhân và gia đình); nhóm quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân (quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, được lập hội, hội họp, biểu tình theo quy định của pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, quyền tự do đi lại và cư trú). 2. Sự ngang bằng về chủ quyền giữa các quốc gia. Mỗi quốc gia có các quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế cơ bản ngang với các quốc gia khác; được hưởng đầy đủ mọi quyền phát sinh từ chủ quyền quốc gia của mình, Sự bình đẳng của quốc gia trong quan hệ quốc tế bao gồm: quyền được tôn trọng về quốc thể, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị kinh tế - văn hóa; được tham gia giải quyết những vấn đề liên quan đến lợi ích của mình, được tham gia các tổ chức quốc tế có liên quan, lá phiếu của quốc gia có giá trị ngang nhau; được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốc gia khác; được hưởng các quyền ưu đãi miễn trừ ngang với các quốc gia khác trong quan hệ quốc tế."