Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Quy phạm chỉ chứa đựng những nguyên tắc, nguyên lý, định nghĩa dùng làm cơ sở xuất phát và tư tưởng chỉ đạo việc đặt ra và thi hành những quy phạm, quy tắc khác. Khác với những quy phạm pháp luật phổ biến, kinh điển là những quy tắc xử sự chung với cơ cấu bắt buộc phải có 3 yếu tố: giả định, quy định, chế tài. Những quy phạm pháp luật đặc biệt về mặt cơ cấu bên trong thường không có giả định, chế tài, nhưng nội dung hợp thành phần của nó với với sức mạnh bảo đảm của nhà nước phải được công nhận và tôn trọng tuyệt đối, không điều kiện. Khi cần bảo đảm sự tôn trọng của quy định này bằng hình thức chế tài thì nhà làm luật phải đặt ra những quy phạm, quy tắc để trừng phạt, xử lý một loại hành vi vi phạm riêng nào đó. Với tính chất như vậy, những điều luật thể hiện những quy phạm này thường được sắp xếp ở chương đầu hoặc phần đầu của mỗi văn bản pháp luật. Có những quy phạm pháp luật cũng được xếp vào quy phạm pháp luật đặc biệt, đó là những quy phạm hướng dẫn hoặc giới thiệu. Những quy phạm này có giả định và quy định nhưng không có chế tài. Quy tắc xử sự không có tính chất bắt buộc mà chỉ có tính chất gợi ý hoặc giới thiệu. Sự tồn tại của những quy phạm pháp luật đặc biệt là đặc điểm của pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện sự lãnh đạo, quản lý dân chủ nhất là trong các lĩnh vực quản lý hành chính kinh tế của Đảng và Nhà nước.
Chưa có văn bản pháp luật nào được lập chỉ mục cho thuật ngữ này.