Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
1. Có nghĩa như hình thức áp luật trong ngôn ngữ thông thường (ít dùng). 2. Trong khi pháp lí, nguồn pháp luật là cơ sở để xác định đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và nội dung của một ngành luật trong hệ thống pháp luật. Mỗi ngành luật được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Vd. nguồn pháp luật của luật nhà nước (luật hiến pháp) là Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật quốc tịch, Luật tổ chức hội đồng nhân dân, vv. Nguồn pháp luật của Luật hành chính là những điều quy định của Hiến pháp về chính phủ, thủ tướng chính phủ, nghị định thành lập các bộ, những quy định về ủy ban nhân dân trong Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân. Nguồn pháp luật là những căn cứ mà nhà lập pháp tham khảo sử dụng để xây dựng các định chế, các văn bản pháp luật của nhà nước mình. Về nguồn gốc của pháp luật Việt Nam, chúng ta sơ bộ có thể phân biệt 3 thời kì: a) Từ triều Lý, Trần, Lê cho đến triều Nguyễn trước Hiệp ước Mậu Thân ngày 6.6.1884. Trong khoảng thời gian dài này, nước ta vẫn sống dưới một chính thể duy nhất là chính thể quân chủ nhưng trải qua nhiều triều đại: Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn. Triều đại nào cũng xây dựng nền pháp luật của mình với các định chế riêng biệt. Nói chung các định chế đó thường được ghi chú trong các văn kiện do nhà vua ban bố như các bộ luật, các dụ, chiếu, lệnh, lệ, nhưng không được ghi trên giấy tờ và chỉ có tính truyền khẩu. Nguồn gốc của các định chế này trong những trường hợp đặc biệt thường là phong tục tập quán (vd. lệ làng). b) Thời kì thuộc Pháp, từ 1884 đến Cách mạng tháng Tám 1945: - Nguồn gốc các định chế pháp lí Việt Nam thời thuộc Pháp, cũng như thời kì trước, được ghi trên giấy tờ trên luật pháp thành văn, từ các bộ luật hình sự, dân sự, thương mại, tố tụng vv. do hoàng đế Việt Nam với tư cách chủ thể quyền hợp pháp ban hành tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, lẽ dĩ nhiên là với sự thỏa thuận của viên đại diện chính phủ Pháp là toàn quyền Đông Dương cho đến các dụ của hoàng đế Việt Nam ban hành tại hai xứ nói trên để bổ sung luật sửa đổi những điều khoản, hoặc để quy định về những vấn đề không thuộc phạm vi điều chỉnh của các bộ luật nói trên. - Nguồn gốc các định chế pháp lí Việt Nam trong thời kì này cũng còn là các sắc lệnh của tổng thống Pháp, các nghị định có tính cách lập quy của toàn quyền Đông Dương, hoặc của thống sứ Bắc Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, và các nghị định có tính cách lập quy của các viên đốc lí tại các thành phố nhượng địa Hà Nội, Sài Gòn, vv. - Một nguồn gốc nữa của các định chế pháp lí Việt Nam là các án lệ (jurisprudence) của các tòa án tư pháp hoặc hành chính cao cấp nhất tại Việt Nam như Tòa thượng thẩm (Cours d'appel), Tòa án hành chính, Tòa án cai trị Đông Dương (Conseil du Contentieux Administratif de l'Indochine) và Tham chính viện Pháp (Conseil d'Etat Francais). 4) Trong các trường hợp mà luật pháp thành văn không dự liệu rõ ràng, hoặc án lệ chưa nhắc tới, tục lệ đương nhiên trở thành một nguồn gốc đáng kể của các định chế Việt Nam. c) Thời kì Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay. Các định chế pháp lí của Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nguồn gốc chủ yếu từ hai yếu tố: - Đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam mà vai trò lãnh đạo tính chất lịch sử đã được quy định trong các bản Hiến pháp từ 1946 đến 1992. - Tinh hoa mà nhà lập pháp đã kế thừa của các định chế pháp lí cổ truyền của dân tộc và các tinh hoa pháp lí của nước ngoài phù hợp với thực tiễn và tính chất Việt Nam.