Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Là người được hưởng di sản của người đã chết, theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Người thừa kế có thể là cá nhân hoặc là cơ quan, tổ chức. Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống khi mở thừa kế. Tuy nhiên, con của người để lại di sản đã thành thai sau khi người để lại di sản chết cũng được thừa kế của người cha theo quy định của pháp luật (Điều 638 – Bộ luật dân sự). Trong trường hợp người để lại di sản lập di chúc thì họ có thể để lại di sản cho bất kì ai. Do đó, người đã thành thai và sinh ra sau khi người để lại di sản chết có thể là con của bất kì ai mà người lập di chúc muốn cho hưởng di sản (vd. con của một người bạn). Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết, thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản (Điều 683 – Bộ luật dân sự). Trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung, khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết, thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản (Điều 683 – Bộ luật dân sự). Trong trường hợp vợ chồng đã li hôn mà chưa được tòa án cho li hôn bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì nếu một người chết, thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản (Điều 683 – Bộ luật dân sự). Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như con đẻ thì được thừa kế di sản của nhau. Ngoài ra, con riêng còn được thừa kế về phía cha, mẹ đẻ theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật (Điều 682 – Bộ luật dân sự). Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau. Ngoài ra, con nuôi còn được thừa kế về phía cha, mẹ đẻ của mình theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật (Điều 681 – Bộ luật dân sự). Người thừa kế là cá nhân có thể là người đã thành niên hoặc chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, người đang bị giam giữ, người đang phải thi hành án hình sự, người vắng mặt, người đang ở nước ngoài, vv. Phần di sản mà người chưa thành niên, người mắc bệnh tâm thần, người đang ở nước ngoài sẽ do người được phép đại diện cho những người đó quản lí. Trong trường hợp người lập di chúc để lại di sản cho cơ quan, tổ chức thì cơ quan, tổ chức này phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế (Điều 638 – Bộ luật dân sự).