Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"(cg. giám định, giám định viên) người có chuyên môn sâu về một lĩnh vực, một vấn đề được các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trưng cầu để xem xét và đưa ra kết luận về những điểm nhất định cần làm rõ trong một vụ án hình sự, dân sự, tai nạn lao động mà việc quan sát xét hỏi một cách bình thường hoặc dựa vào các chứng cứ khác đã có chưa đủ để xác định sự thật. Người giám định từ chối kết luận mà không có lí do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự, bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm. Về hình sự, có những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định: nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động để xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội đối với sức khỏe của nạn nhân và mức bồi thường cho nạn nhân; tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo để xác định năng lực trách nhiệm hình sự nếu có sự nghi ngờ họ mắc bệnh tâm thần; tình trạng tâm thần của người làm chứng, người bị hại để xem xét khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn của họ (Điều 44 – Bộ luật tố tụng hình sự), vv. Về dân sự, nhiều việc cần trưng cầu người giám định như giám định vân tay, chữ kí, chứng từ, giám định kế toán, giám định hàng hóa… Các đương sự, những người có liên quan trong vụ kiện dân sự có thể đề nghị tòa án trưng cầu giám định theo quy định của pháp luật. Để bảo đảm sự vô tư, người giám định phải từ chối việc giám định hoặc sẽ bị thay trong một số trường hợp bản thân là người bị hại, là đương sự, là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, là người làm chứng, người phiên dịch trong vụ án, vv. (Điều 28 – Bộ luật tố tụng hình sự). (Xt. Kết luận giám định)."