Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có quyết định tạm giữ nhưng chưa bị khởi tố (Điều 38 – Bộ luật tố tụng hình sự). Người bị tạm giữ có quyền được biết lí do mình bị tạm giữ, được giải thích quyền và nghĩa vụ, trình bày lời khai; đưa ra những yêu cầu, khiếu nại về việc tạm giữ và những quyết định khác có liên quan. Những người sau đây có quyền ra lệnh tạm giữ: 1. Trưởng công an, phó trưởng công an cấp huyện; thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên; thủ trưởng, phó thủ trương cơ quan điều tra các cấp trong quân đội nhân dân. 2. Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới. 3. Người chỉ huy máy bay, tàu biển khi máy bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. Thời hạn tạm giữ không được quá 3 ngày đêm kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt, trong trường hợp cần thiết, cơ quan ra lệnh tạm giữ gia hạn tạm giữ nhưng không quá 3 ngày. Trong trường hợp đặc biệt, cơ quan ra lệnh tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai và cũng không được quá 3 ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Khi hết thời hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người đã bị tạm giữ."