Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Căn cứ theo Điều 12 của Bộ luật hình sự, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ. Người bào chữa có thể là: luật sư; người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân. Những người sau đây không được bào chữa: a. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án, hoặc là người thân thích của những người này. b. Người tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch. Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều bị can, bị cáo trong cùng một vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một bị can, bị cáo. Người bào chữa do bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn. Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án phải yêu cầu đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ: a. Bị can, bị cáo bị truy tố về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự. b. Bị can, bị cáo là người chưa thành niên; người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Trong những trường hợp này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Người bào chữa có những quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự."