Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Năm hình phạt của hình luật phong kiến, đều mang tính chất nhục hình, tàn bạo làm cho người phạm tội bị khổ nhục, đau đớn, được đặt ra từ các triều đại xa xưa của Trung Hoa và là được quy định trong bộ “Đường luật sớ nghị” của nhà Đường ban hành năm 653, được các bộ luật hình của các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn tham khảo. Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê) hoặc Bộ luật Gia Long triều Nguyễn, trong Điều 1 – Chương danh lệ quy định năm hình phạt (ngũ hình) là: 1. Xuy hình (đánh bằng roi) có 5 bậc: 10 roi, 20 roi, 30 roi, 40 roi, 50 roi, tùy theo tội mà thêm bớt. 2. Trượng hình (đánh bằng gậy) có 5 bậc: 60 trượng, 70 trượng, 80 trượng, 90 trượng, 100 trượng, tùy theo tội mà thêm bớt. 3. Đồ hình là tù khổ sai có thời hạn, người phạm tội phải đi làm những công việc phục dịch nặng nhọc đồng thời có kèm theo hình phạt trượng. 4. Lưu hình là bắt đi đày từ châu gần đến châu xa, có 3 bậc tùy theo tội mà tăng giảm: - Châu gần: đàn ông đánh 90 trượng, thích vào mặt 6 chữ, bắt đeo xiềng. Đàn bà đánh 50 roi, thích vào mặt 6 chữ, không phải đeo xiềng, bắt phải làm việc. - Châu ngoài: đánh 80 trượng, thích vào mặt 8 chữ, bắt đeo xiềng hai vòng, đày đi làm việc ở xứ Bố Chính (nay là Quảng Bình) - Châu xa: đánh 100 trượng, thích vào mặt 10 chữ, bắt đeo xiềng 3 vòng, đày đi làm việc ở các xứ Cao Bằng. Vì hình phạt lưu hình là đi đày chung thân, nên cho phép gia đình được đi theo phạm nhân. 5. Tử hình, có các hình thức: thắt cổ, chém; chém bêu đầu; lăng trì (loại hình phạt tàn khốc: phạm nhân phạm trọng tội bị mang ra pháp trường, trước tiên cắt chân tay, rồi xẻo thịt dần cho đến chết)."
Chưa có văn bản pháp luật nào được lập chỉ mục cho thuật ngữ này.