Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"1. Mua bán vật là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản đó cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán (Điều 421 – Bộ luật dân sự). Hợp đồng mua bán phải theo đúng những điều kiện về giao dịch hợp pháp (x. Giao dịch dân sự có hiệu lực; Giao dịch dân sự vô hiệu lực). 2. Vật bán có thể là bất động sản hoặc động sản thuộc sở hữu của người bán. Vì vậy, nếu bán vật của người khác thì việc mua bán vô hiệu. 3. Vật bán phải là: a) Vật có thực, tức là đang tồn tại hoặc sẽ được chế tạo theo mẫu mã mà hai bên đã thỏa thuận. b) Vật được phép giao dịch, tức là vật không bị cấm mua bán (như súng đạn, chất nổ, chất độc, chất phóng xạ, văn hóa phẩm đồi trụy, vv.). 4. Các bên thỏa thuận với nhau về giá cả hoặc giá do một người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên. Trong trường hợp nhà nước có quy định khung giá thì các bên chỉ được thỏa thuận trong khung giá đó. 5. Bên bán phải giao tài sản cho bên mua và bên mua phải thanh toán tiền mua đúng thời hạn mà hai bên đã thỏa thuận. 6. Quyền sở hữu tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm bên mua nhận tài sản; trong trường hợp pháp luật quy định tài sản mua bán phải đăng kí quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng kí quyền sở hữu."
Chưa có văn bản pháp luật nào được lập chỉ mục cho thuật ngữ này.