Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Nguyên tắc của luật quốc tế hình thành trên cơ sở bình đẳng chủ quyền quốc gia. Khác với các thể nhân và pháp nhân, quốc gia là một thực thể có chủ quyền, do đó khi tham gia vào các quan hệ dân sự, quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp. Điều đó có nghĩa là một quốc gia không phải chịu sự tài phán của quốc gia khác. Quốc gia không thể bị gọi ra trước tòa án của một quốc gia khác với tư cách là bị đơn nếu không có sự đồng ý của chính quốc gia đó. Về nội dung, quyền miễn trừ tư pháp bao gồm: miễn trừ xét xử của tòa án nước ngoài; miễn trừ đảm bảo sơ bộ án và miễn trừ khỏi việc thi hành cưỡng chế các bản án của tòa án nước ngoài và các quyết định của trọng tài nước ngoài. Quyền miễn trừ tư pháp còn được áp dụng đối với những người có chức phận ngoại giao. Tuy nhiên, theo Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao thì những người sau không được hưởng quyền miễn trừ tư pháp trong các trường hợp như: các vụ kiện về tài sản, liên quan tới bất động sản của cá nhân nằm trên lãnh thổ của nước sở tại, nếu viên chức ngoại giao sở hữu bất động sản đó không nhân danh nước cử đi vì các mục đích của cơ quan đại diện; một vụ kiện liên quan đến việc thừa kế trong đó viên chức ngoại giao đứng tên là người thực hiện di chúc, người bảo hộ, người thừa kế hoặc người thừa tự với tư cách cá nhân chứ không phải nhân danh nước cử đi; một vụ kiện liên quan đến bất cứ hoạt động nghề nghiệp hoặc thương mại nào mà viên chức ngoại giao tiến hành ở nước tiếp nhận ngoài phạm vi những chức năng chính thức của họ. Việt Nam là thành viên của Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao từ năm 1980 và đã kí kết nhiều hiệp định lãnh sự với các nước hữu quan trong đó có nhiều quy phạm đề cập đến vấn đề miễn trừ tư pháp."