Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
1. Dưới chế độ phong kiến ở Trung Hoa và Việt Nam, lệnh cũng như lệ đều là những điều khoản được bổ sung vào các bộ luật cũ xuất xứ từ các bản án điển hình đã được nhà vua công nhận có hiệu lực lâu dài. Vd. ở Trung Hoa, Đường Cao Tổ (618 – 627) đã chế định ra bộ luật Vũ Đức gồm 500 điều ban hành năm 624, ngoài ra còn ban bố 30 quyển lệnh gồm các thể chế của quốc gia và pháp quy của chế độ… ở Việt Nam, trong bộ “Quốc triều hình luật” của triều Lê cũng có một số lệnh quy định về vấn đề hôn nhân, tài sản, thừa kế và hương hỏa (Quyển 3 Chương điền sản, các Điều 388, 389, 391, 396, 397…). Trong bộ luật Gia Long “lệ” cũng có nghĩa như “lệnh” trong Bộ luật Hồng Đức (Cổ luật Việt Nam lược khảo, quyển 1, Vũ Văn Mậu. Nhà xuất bản đại học luật khoa Sài Gòn, 1971, trang 16 – 17). 2. Ở Việt Nam ngày nay theo Điều 106 – Hiến pháp năm 1992, lệnh ra văn bản do chủ tịch nước ban hành để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, (vd. Lệnh số 44L/CTN ngày 9.11.1995 của chủ tịch nước công bố Bộ luật dân sự được Quốc hội khóa IX, kì họp thứ 8 thông qua ngày 28.10.1995).