Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Là kết hôn phạm vào các điều mà pháp luật cấm. Điều 7 – Luật hôn nhân và gia đình ngày 29.12.1986 cấm kết hôn trong những trường hợp sau đây: a) Đang có vợ hoặc có chồng. b) Đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu. c) Kết hôn giữa người cùng dòng máu trực hệ, giữa anh em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời. Cách tính “có họ trong phạm vi ba đời” là: - Đối với những người cùng cha khác mẹ thì cha mẹ là đời thứ nhất. - Anh em, chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai. - Anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con già là đời thứ ba. d) Kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi. Nếu hai bên thực sự đã kết hôn với nhau nhưng vì chưa hiểu biết pháp luật hoặc vì hoàn cảnh khách quan mà chưa đăng kí vào sổ giá thú thì tòa có thể coi là hôn nhân thực tế. Pháp luật không công nhận những việc kết hôn trái pháp luật. Vì vậy, theo yêu cầu của một bên hoặc của cả hai bên, hoặc theo yêu cầu của viện kiểm sát hoặc tổ chức xã hội hữu quan, tòa án sẽ hủy hôn nhân trái pháp luật đó. Khi hôn nhân trái pháp luật bị hủy thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo sự đóng góp của mỗi bên; quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn được pháp luật bảo vệ. Quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ li hôn."