Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Là một phương thức chấm dứt hiệu lực của một điều ước quốc tế được thể hiện bằng tuyên bố đơn phương của một văn bản đã kí kết hoặc tham gia điều ước quốc tế. Việc hủy bỏ điều ước quốc tế là dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của các bên tham gia khác và thường xảy ra trong những trường hợp đặc biệt. Cơ sở hủy bỏ điều ước quốc tế là: a) Bên kia đã chấm sứt sự tồn tại của họ. b) Có sự vi phạm nghiêm trọng điều ước từ phía bên kí kết. c) Hoàn cảnh đã thay đổi về cơ bản so với khi kí kết. d) Điều ước quốc tế đã kí kết không có khả năng thực hiện được. đ) Điều ước quốc tế đã kí kết bị coi là vô hiệu. Việc hủy bỏ điều ước quốc tế chỉ xảy ra đối với điều ước hai bên. Còn việc tuyên bố đơn phương của bên tham gia điều ước quốc tế nhiều bên được gọi là “rút khỏi điều ước quốc tế”. Trong trường hợp này, điều ước quốc tế nhiều bên vẫn có hiệu lực đối với các bên tham gia khác. Ở Việt Nam, căn cứ theo Khoản 13 – Điều 84 – Hiến pháp năm 1992, quyền tuyên bố “hủy bỏ các điều ước đã kí kết” thuộc quyền của Quốc hội theo đề nghị của chủ tịch nước.
Chưa có văn bản pháp luật nào được lập chỉ mục cho thuật ngữ này.