Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"(cg. Hương khoản; khoản ước, tục lệ; hương tục; hương lệ; cựu khoản; lệ làng..) Là một loại luật pháp nằm trong hệ thống luật chung của nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Hương ước do một nhóm người có học vấn – các nhà nho, soạn thảo và được toàn dân làng tán thành, có giá trị trong phạm vi địa phương làng, xã, thôn…. Nơi ban hành hương ước. Nội dung các hương ước bao gồm các quy phạm điều chỉnh các loại quan hệ trong nông thôn như: tổ chức hội đồng tộc biểu; lí, phó trưởng; việc chi thu, việc bổ sưu thuế; việc kiện cáo, hòa giải, canh giữ trong làng, canh giữ ngoài đồng, bắt trộm cướp; việc cứu hỏa; giữ gìn vệ sinh; bảo vệ đường sá, cầu cống, đê điều, việc bảo vệ hoa màu; việc giáo dục, cưới hỏi, ma chay, hội hè, khao vọng; việc bảo vệ đất công, ruộng công cùng các nguồn lợi công khác cho làng; việc thi hành nghĩa vụ binh dịch, khuyến học, vv. Có địa phương, cứ đến ngày đầu năm, dân làng tổ chức lễ hội ăn thề. Mọi người dân trong làng đều phải thề trước thần linh nguyện sẽ triệt để tôn trọng và bảo vệ hương ước. Đến ngày lễ làng vào giữa năm, các thôn đem hương ước đọc cho mọi người dân để nhớ và tuân theo. Hương ước ở Việt Nam xuất hiện ít nhất từ thế kỉ 14, có nhiều tác dụng trong việc tạo nên các truyền thống tốt của dân tộc Việt Nam. Lo sợ các tác dụng tích cực của hương ước, chính quyền thực dân Pháp mưu toan xóa bỏ hương ước nhưng không được, đến những năm 30 của thế kỉ XX, thực dân Pháp chủ trương cải lương sửa đổi hương ước, hạn chế việc thực hiện các quy phạm tiến bộ, khuyến khích các quy phạm gây nên các hủ tục, tệ nạn trong nông thôn như: tế lễ, khao vọng quanh năm, tranh giành ngôi thứ ở chốn đình trung, mua quan bán tước, phá hoại tình đoàn kết xóm làng gây chia rẽ, hiềm khích trong nông thôn để nhân dân quên đi kẻ thù chính của họ là bọn cướp nước và bán nước."