Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Là giao dịch dân sự, trong đó các bên thỏa thuận với nhau về xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt nghĩa vụ dân sự (X. Giao dịch nhân sự; Giao dịch dân sự có hiệu lực). Hợp đồng dân sự được xác lập trên nguyên tắc: tự do giao kết hợp đồng, tức là các bên được tự do thỏa thuận về nội dung hợp đồng, nhưng không được trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội. Hợp đồng dân sự có thể được xác lập bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể. Vd. Ở chợ, người ta có thể mua bán hàng hóa, thực phẩm thông thường bằng miệng. Trong thương mại, hai bên cũng có thể thỏa thuận với nhau qua điện thoại, điện tín…. Phương thức giao kết hợp đồng là: một bên đề nghị và bên kia chấp nhận. Khi hai bên đã thỏa thuận thì hợp đồng có hiệu lực, trừ trường hợp hai bên thỏa thuận giao kết hợp đồng bằng hình thức nhất định thì hợp đồng chỉ được coi là đã giao kết khi đã tuân thủ hình thức đó. Vd. Hai bên mới thỏa thuận miệng nhưng nhất trí là phải làm hợp đồng bằng văn bản. Trong trường hợp pháp luật có quy định là hợp đồng dân sự phải được thực hiện bằng văn bản, phải được chứng nhận của công chứng nhà nước, đăng kí hoặc xin phép, thì hợp đồng chỉ được coi là đã giao kết khi đã tuân thủ những thể thức đó. Vd. Hợp đồng mua bán nhà ở; hợp đồng tặng cho bất động sản; hợp đồng thế chấp, vv. Việc thực hiện hợp đồng dân sự phải tuân theo những nguyên tắc sau đây: a) Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau. b) Đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác. c) Không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người khác. Các bên có thể thỏa thuận sửa lại hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc sửa đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trong trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản, có chứng thực của công chứng nhà nước, đăng kí hoặc cho phép, thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo những thể thức đó. Hợp đồng dân sự chấm dứt trong các trường hợp được quy định tại Điều 418 – Bộ luật dân sự là: a) Hợp đồng đã được hoàn thành. b) Theo sự thỏa thuận của các bên. c) Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc các chủ thể khác chấm dứt mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể đó thực hiện. vd. Hợp đồng lao động mà người lao động chết; hợp đồng lắp đặt một công trình kĩ thuật mà pháp nhân có nghĩa vụ bị phá sản…. d) Hợp đồng bị hủy bỏ đình chỉ trong trường hợp việc vi phạm hợp đồng của một bên là điều kiện hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận hoặc do pháp luật có quy định. Vd. Người bán không giao đủ hoặc không giao đúng hạn hàng cho người mua thì người mua có quyền đình chỉ thi hành hợp đồng và yêu cầu hủy hợp đồng."