Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Hành vi tham nhũng, một tội phạm nghiêm trọng xâm phạm đến hoạt động và uy tín của bộ máy nhà nước, gây tác hại nhiều mặt đến việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Quyết định số 240/HĐBT ngày 26.6.1990 của Hội đồng bộ trưởng về chống tham nhũng đã đề ra một nhiệm vụ cấp bách là phải chống mọi hành vi hối lộ dưới mọi hình thức. Cả tội nhận hối lộ và đưa hối lộ đều bị nghiêm trị. Theo Điều 226 – Bộ luật hình sự, người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền của, lợi ích vật chất dưới bất kì hình thức nào để làm một việc thuộc trách nhiệm của mình hoặc không làm một việc phải làm, thì bị phạt tù là 1 – 7 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 5 – 15 năm: a. Có tổ chức. b. Sách nhiễu hoặc nhiều thủ đoạn xảo quyệt. c. Của hối lộ có giá trị lớn. d. Gây hậu quả nghiêm trọng đ. Phạm tội nhiều lần. e. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 – 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Theo Điều 227 – Bộ luật hình sự thì người nào đưa hối lộ hoặc môi giới hối lộ thì bị phạt tù từ 6 tháng – 5 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây bị phạt tù từ 3 – 15 năm: a. Có tổ chức. b. Dùng thủ đoạn xảo quyệt. c. Của hối lộ có giá trị lớn. d. Gây hậu quả nghiêm trọng. đ. Phạm tội nhiều lần. e. Sử dụng công quỹ để đưa hối lộ. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 – 20 năm hoặc tù chung thân. Người bị ép đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.