Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Là tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác. Hòa giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự. Vì việc hòa giải quan trọng như vậy, cho nên nhà nước đã quy định ở Điều 5 – Pháp lệnh ngày 28.8.1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự là tòa án phải hòa giải trước khi đưa ra xét xử, trừ những trường hợp đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của nhà nước, những việc phát sinh từ giao dịch trái pháp luật, vd. Cho vay tiền để buôn bán ma tuý, hai bên mua bán hàng cấm, vv.và những việc kết hôn trái pháp luật. Nếu hòa giải thành thì thẩm phán lập biên bản hòa giải thành. Sau 15 ngày mà hai bên không thay đổi ý kiến hoặc viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị thì thẩm phán ra quyết định công nhận việc hòa giải và quyết định này được thi hành như một bản án có hiệu lực pháp luật (Điều 44 – Pháp lệnh ngày 28.8.1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự). Đối với những bản án kinh tế và lao động, các Điều 5 và 36 – Pháp lệnh ngày 16.3.1994 về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, các Điều 4 và 38 – Pháp lệnh ngày 11.4.1996 về thủ tục giải quyết các tranh chấp về lao động cũng rất coi trọng công tác hòa giải. Nếu hòa giải thành thì quyết định của thẩm phán công nhận việc hòa giải có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành mà các bên không có quyền thay đổi ý kiến nữa (Điều 36 – Pháp lệnh ngày 16.3.1994 và Điều 38 – Pháp lệnh ngày 11.4.1996).