Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam, được Quốc hội khóa I thông qua tại kì họp thứ II ngày 9.11.1946. Hiến pháp năm 1946 thể chế hóa nghị quyết của Hội nghị trung ương Đảng tháng 11.1940, Hội nghị trung ương lần thứ 8 vào tháng 5.1941 sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước gồm lời nói đầu và 7 chương với 70 điều. Lời nói đầu tóm tắt nội dung, tinh thần cơ bản của Tuyên ngôn độc lập ngày 2.9.1945. “Cuộc cách mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa”, nêu rõ “Nhiệm vụ của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn độc lập này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn, kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”, vv. Và 3 nguyên tắc xây dựng hiến pháp: “Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo. Đảm bảo các quyền tự do dân chủ. Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Chương I: Chính thể gồm 3 điều. Điều 1 quy định: ""Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, tôn giáo”. Điều 2 quy định: “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể phân chia”. Điều 3 quy định về quốc kì (nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh), Quốc ca (bài Tiến quân ca) và thủ đô (Hà Nội). Chương II. Nghĩa vụ và quyền lợi công dân gồm 18 điều. Mục A về nghĩa vụ; bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng hiến pháp, tuân theo pháp luật (Điều 4) và nghĩa vụ quân sự (Điều 5). Mục B về quyền lợi: 11 điều là các quyền bình đẳng: bình đẳng về chính trị, kinh tế văn hóa (Điều 6); bình đẳng trước pháp luật (Điều 7); bình đẳng dân tộc (Điều 8); bình đẳng nam, nữ (Điều 9); các quyền tự do: ngôn luận, xuất bản, tổ chức và hội họp, tín ngưỡng, cư trú, đi lại (Điều 10); quyền bất khả xâm phạm về thân thể, thư tín, nhà ở (Điều 11); các quyền về kinh tế, xã hội, quyền tư hữu tài sản, quyền của giới cần lao chân tay và trí thức, quyền được giúp đỡ của người già, tàn tật, quyền học tập (Điều 12 – 15); quyền cư trú cho người nước ngoài do đấu tranh vi dân chủ, tự do mà phải trốn tránh (Điều 16). Mục C về bầu cử, bãi miễn và phúc quyết: các nguyên tắc của quyền bầu cử, bãi miễn (Điều 17 – 20) và quyền phủ quyết về hiến pháp và những việc quân hệ đến vận mệnh quốc gia (Điều 21). Chương III đến chương VI: Tổ chức nhà nước gồm: Nghị viện nhân dân: cơ quan do công dân bầu có quyền cao nhất, giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước. Nghị viện bầu ra Ban thường vụ có quyền biểu quyết những dự án sắc luật, kiểm soát và phê bình chính phủ khi nghị viện không họp, vv. (Điều 22 – 42). Chính phủ: Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc do Quốc hội bầu gồm chủ tịch nước, phó chủ tịch và nội các. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số nghị viên theo đa số đại biểu với nhiệm kì 5 năm (nhiệm kì nghị viện nhân dân 3 năm). Phó chủ tịch nước chọn trong nhân dân và bầu theo đa số (nhiệm kì 3 năm), nội các gồm thủ tướng (có thể có phó thủ tướng), bộ trưởng, thứ trưởng. Thủ tướng do chủ tịch nước giới thiệu để nghị viện biểu quyết. Bộ trưởng do thủ tướng chọn và nghị viện biểu quyết theo danh sách. Thủ tướng chịu trách nhiệm về con đường chính trị của nội các. Nghị viện có quyền biểu quyết không tín nhiệm nội các (Điều 43 – 56). Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính: được bầu ở cấp tỉnh, thành phố, thị xã và xã, quyết nghị những vấn đề thuộc địa phương, không được trái với chỉ thị của cấp trên. Hội đồng nhân dân bầu ra ủy ban hành chính. Ở cấp huyện không có hội đồng nhân dân thì ủy ban hành chính do hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp bầu ra (Điều 47 – 62). Cơ quan tư pháp: thẩm phán do chính phủ bổ nhiệm; khi xét xử về hình có hội thẩm nhân dân tham gia, chỉ tuân thủ theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp; xét xử công khai, bị cáo có quyền bào chữa hoặc mướn luật sư (Điều 63 – 69). Chương VII: sữa đổi hiến pháp: phải có hai phần ba tổng số nghị viện yêu cầu (Điều 70). “Chế độ do Hiến pháp năm 1946 xác nhận đã bảo đảm độc lập