Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Hiến pháp mà việc sửa đổi phải theo một trình tự riêng, có khi phải thành lập một tổ chức phụ trách và phải được đa số đại biểu của nghị viện, quốc hội biểu quyết tán thành. Vd. Điều 5 – Hiến pháp năm 1787 của Mĩ quy định khi thấy cần thiết sửa đổi phải có hai phần ba số đại biểu của hai viện hoặc có yêu cầu của cơ quan lập pháp của hai phần ba các bang, quốc hội sẽ triệu tập một hội nghị để đề nghị những điều sửa đổi và những điều sửa đổi phải được cơ quan lập pháp của ba phần tư số bang hoặc các hội nghị của ba phần tư số bang phê chuẩn theo trình tự do quốc hội quy định. Đến nay, đã có mấy chục đạo luật sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1787. Các Hiến pháp của Việt Nam quy định chỉ có Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp. Việc sửa đổi hiến pháp phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết: Điều 112 – Hiến pháp năm 1959, Điều 147- Hiến pháp 1980, 1992. Điều 70 – Hiến pháp năm 1946 quy định thêm “sau khi nghị viện phê chuẩn, các điều thay đổi phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.
Chưa có văn bản pháp luật nào được lập chỉ mục cho thuật ngữ này.