Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Tòa án được giáo hội Thiên chúa giáo thiết lập, trong nhiều thế kỉ trước (thời Trung cổ), tại một số nước phương Tây thừa nhận Thiên chúa giáo là quốc giáo và do các tu sĩ giòng Đôminicô nắm quyền xét xử. Tòa án giáo hội điển hình nhất hồi đó là Tòa án giáo hội ở nước Pháp: giáo hội có đặc quyền tài phán, tức là có quyền thiết lập các tòa án riêng gọi là Giáo hội pháp đình (juridictions ecclesiastiques) để xét xử các việc sau đây: 1. Các vụ kiện liên quan tới giáo hội, vd. Một giáo sĩ hoặc một nhân viên của giáo hội phạm tội, dù là tội thường phạm như hiếp dâm, giết người, vv. Tòa án của nhà vua cũng không có quyền xét xử. 2. Các vụ kiện liên quan tới tài sản của giáo hội, vd. Một tư nhân có việc tranh chấp ruộng đất do bị giáo hội chiếm, cũng chỉ riêng tòa án giáo hội mới có quyền thụ lí. 3. Các vụ kiện liên quan đến vấn đề tín ngưỡng, vd. Nhiều nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ đã có hành vi “không tín ngưỡng"" đều bị tòa án giáo hội khép vào tội” yêu ngôn, hoặc chúng”; tuyên truyền các tà thuyết có tính cách bài bác Thiên chúa giáo đều bị trừng trị rất nghiêm khắc, tàn khốc. Trong số nhiều nhà bác học lớn bị giáo hội pháp đình xử tội, có nhà triết học người ý Brunô Gioocđanô (Bruno Giordano) (1548 – 1600), giáo sư, nhà vật lí học và thiên văn học Galilê (Galibée) (1564 - 1642), vv. 4. Ngoài những loại án kiện nói trên, Giáo hội pháp đình còn có quyền xét xử bất cứ vụ kiện nào, nếu xét ra đương sự có ý muốn nhờ giáo hội phân xử. 5. Giáo hội pháp đình còn có quyền thụ lí cả các vụ kiện trong đó một bên đương sự là góa phụ hoặc trẻ em mồ côi."
Chưa có văn bản pháp luật nào được lập chỉ mục cho thuật ngữ này.