Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Giảm thời hạn chấp hành hình phạt cho người phạm tội đã bị tòa án tuyên phạt. Người bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc bị phạt tù nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định và đã cải tạo tốt thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức xã hội có trách nhiệm trực tiếp giám sát việc chấp hành hình phạt, tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành phạt cho người đó. 1. Đối với hình phạt chính: theo Điều 49 – Bộ luật hình sự, người bị kết án cải tạo không giam giữ, cải tạo ở đơn vị kỉ luật của quân đội hoặc tù, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định và đã chứng tỏ quyết tâm cải tạo, thì theo đề nghị của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có trách nhiệm trực tiếp giám sát việc chấp hành hình phạt, tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với các hình phạt 20 năm tù trở xuống, 10 năm đối với tù chung thân. Một người có thể được giảm nhiều lần nhưng phải đảm bảo thời hạn thực sự chấp hành hình phạt là một nửa thời hạn hình phạt đã tuyên. Người bị xử phạt tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 20 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải đảm bảo thời gian thực sự chấp hành hình phạt là 15 năm. 2. Đối với hình phạt bổ sung: người bị kết án bị cấm cư trú hoặc bị quản chế, nếu đã chấp hành được một nữa thời hạn hình phạt và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của chính quyền địa phương, tòa án có thể quyết định miễn việc chấp hành phần hình phạt còn lại. 3. Giảm hình phạt trong trường hợp đặc biệt: đối với người bị kết án mà có lí do đáng được khoan hồng thêm như: đã lập công, đã quá già yếu, hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì tòa án có thể xét giảm án vào thời gian sớm hơn hoặc với mức giảm cao hơn so với thời gian và mức quy định.
Chưa có văn bản pháp luật nào được lập chỉ mục cho thuật ngữ này.