Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Theo điều lệ về đăng kí hộ tịch do Nghị định số 4/CP ngày 16/1/1961 của Hội đồng chính phủ ban hành thì trong hạn 30 ngày kể từ khi đẻ con, cha hay mẹ phải khai sinh cho con tại Ủy ban nhân dân cơ sở nơi cư trú. Nếu cha, mẹ không đi khai được thì có thể nhờ người thân thuộc, người láng giềng, người bạn đi khai thay. Khi khai sinh, phải xuất trình giấy chứng sinh do cơ quan y tế đã đỡ đẻ cấp. Nếu không có giấy chứng sinh thì có thể xuất trình giấy chứng nhận do người có trách nhiệm về hành chính xóm, bản hay cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường cấp. Khi khai sinh, phải khai rõ: họ tên của đứa trẻ; trai hay gái; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; họ, tên, tuổi, quốc tịch, dân tộc, nghề nghiệp, chỗ ở, số và ngày cấp giấy chứng minh thư (nếu có) của người đứng khai. Trong trường hợp trẻ con mới đẻ bị bỏ rơi thì người trông thấy đầu tiên có nghĩa vụ bảo vệ đứa trẻ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân hoặc công an nơi gần nhất. Ủy ban nhân dân đứng khai sinh và tìm người nuôi đứa trẻ."
Chưa có văn bản pháp luật nào được lập chỉ mục cho thuật ngữ này.