Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Luật hôn nhân và gia đình ngày 29.12.1959 và Luật hôn nhân và gia đình ngày 18.12.1986 thay thế cho Luật nói trên đều quy định chế độ sống một vợ một chồng, tức là ""cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác"" (Điều 4 - Luật hôn nhân và gia đình năm 1986). Toà án sẽ xử hủy hôn nhân vi phạm chế độ một vợ hoặc chồng, theo yêu cầu của một bên hoặc hai bên, của con người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc theo yêu cầu của Viện Kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hoặc của Công đoàn Việt Nam. Khi hôn nhân bị hủy thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy, tài sản chung được chia theo công sức đóng góp của mỗi bên. Quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ li hôn. Người đang có vợ có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác còn có thể bị truy tố về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 144 - Bộ luật hình sự. Tình hình rất cá biệt là trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt trước đây, một số cán bộ Miền Nam đã có vợ, được tập kết ra Miền Bắc, lấy vợ ở Miền Bắc. Đối với những trường hợp này, Thông tư số 60 ngày 22.2.1978 của Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn là: người chồng và hai người vợ có thể thoả thuận chung sống ổn thỏa, tức là toà án không phải huỷ hôn nhân lần thứ hai. Sẽ tiến hành huỷ hôn nhân trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai người vợ (giải quyết theo yêu cầu của vợ)."