Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Văn bản luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, các việc tranh chấp kể cả về hôn nhân gia đình, thương mại … quy định thẩm quyền của tòa án, quyền và nghĩa vụ của các đương sự, trình tự, thủ tục và thi hành các bản án dân sự. Trước Cách mạng tháng Tám, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam bị chia thành ba kì cho nên ở Bắc Kỳ có Bộ luật tố tụng dân dự Bắc Kỳ, ở Trung Kỳ có Bộ luật tố tụng dân sự Trung Kỳ, còn ở Nam Kỳ thì theo Bộ luật tố tụng dân sự của Pháp. Sau Cách mạng tháng Tám, Sắc lệnh ngày 10.10.1945 của chính phủ lâm thời cho phép tạm thời áp dụng những luật lệ của chế độ cũ, trừ những điều khoản trái với nền độc lập và dân chủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, Sắc lệnh số 85 ngày 22.5.1950 đã sửa đổi một số quy định về luật dân sự và tố tụng dân sự. Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Việt Nam còn bị chia cắt thành hai miền, cho nên ở Miền Bắc, Toà án nhân dân tối cao đã ra chỉ thị số 772/TATC 16.7.1959 về đình chỉ áp dụng luật lệ của chế độ cũ. Từ đó, tố tụng dân sự được thực hiện theo những thông tư hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao. Ở miền Nam, chính quyền Sài Gòn đã ban hành Bộ luật tố tụng dân sự ngày 20.12.1972. Bộ luật này không được áp dụng sau khi cả nước đã thống nhất. Sau khi đất nước thống nhất, pháp luật tố tụng dân sự gồm có: a. Pháp lệnh ngày 29.11.1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. b. Pháp lệnh ngày 20.8.1989 về thi hành án dân sự đã được thay thế bởi pháp lệnh ngày 21.4.1993 về thi hành án dân sự. Bộ luật tố tụng dân sự đang được nghiên cứu soạn thảo để trình Quốc hội thông qua.