Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"Những quy định của luật lao động nhằm ""bảo đảm vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác"" (Điều 140 - Bộ luật lao động; Điều 1 - Nghị định số 12/CP ngày 26.1.1995). Bảo hiểm xã hội gồm có: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Bảo hiểm xã hội là hình thức bảo hiểm bắt buộc đối với các đối tượng sau đây gọi chung là người lao động; người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước; lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng là 10 lao động trở lên; lao động là người Việt Nam trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam kí hoặc tham gia có quy định khác; lao động trong các tổ chức dịch vụ thuộc các cơ quan nhà nước, Đảng, đoàn thể; lao động trong các doanh nghiệp tổ chức của lực lượng vũ trang; người giữ chức vụ dân cử, bầu cử trong các cơ quan nhà nước, Đảng, đoàn thể; cán bộ công chức trong các cơ quan nhà nước, Đảng, đoàn thể. Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ các nguồn: nguồn người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương; người lao động đóng bằng 5% tiền lương; nhà nước đóng và hỗ trợ; các nguồn khác Bảo hiểm xã hội Việt Nam do nhà nước thống nhất quản lý quỹ bảo hiểm xã hội theo pháp luật và trực tiếp quản lý thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội."