Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Theo Công ước Pari 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp và một số điều ước quốc tế khác liên quan, bằng sáng chế là bằng độc quyền sáng chế do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế. Bằng sáng chế xác nhận: giải pháp kĩ thuật sáng chế, chủ bằng độc quyền sáng chế và quyền sở hữu sáng chế của chủ bằng, tác giả sáng chế và quyền của tác giả đó. Thời hạn có hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế do pháp luật của mỗi nước quy định và được tính từ ngày đầu tiên của đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế. Theo pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp: nhà nước bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bảo hộ sáng chế dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế, bằng sáng chế do Cục sáng chế cấp và có thời hạn là 15 năm tính từ ngày đầu tiên của đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế. Trong thời hạn hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế, chủ bằng được độc quyền sử dụng sáng chế, chuyển giao quyền sở hữu và quyền sử dụng sáng chế cho tổ chức hoặc cá nhân khác. Đồng thời, chủ bằng sáng chế có nghĩa vụ sử dụng hoặc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trên lãnh thổ Việt Nam phù hợp với yêu cầu kinh tế xã hội của đất nước, nộp lệ phí duy trì hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế và trả thù lao cho tác giả theo quy định của pháp luật. Tác giả sáng chế có quyền được ghi tên trong bằng độc quyền sáng chế và các tài liệu khoa học kĩ thuật có liên quan được công bố, nhận thù lao do chủ bằng độc quyền sáng chế trả theo quy định nêu trên. Trong thời gian hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế, bất cứ tổ chức, cá nhân nào đó những hành động sử dụng sáng chế mà không được phép của chủ bằng thì bị coi là xâm phạm quyền sở hữu của chủ bằng độc quyền sáng chế. Các tổ chức, cá nhân Việt Nam được phép yêu cầu bảo hộ sáng chế của mình để được cấp bằng sáng chế ở nước ngoài sau khi được Cục sáng chế chấp nhận đơn ở Việt Nam. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có thể yêu cầu bảo hộ sáng chế ở Việt Nam để được Cục sáng chế cấp bằng sáng chế và được hưởng các quyền của chủ bằng sáng chế theo quy định của pháp luật Việt Nam phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc theo nguyên tắc có đi lại.