Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Ở một vài nước phương Tây (vd. Cộng hòa Pháp, vv) hệ thống tổ chức nền hành chính theo cách giao cho một cộng đồng dân cư (đơn vị hành chính) gọi là phân quyền theo lãnh thổ hay cho một công sở (phân quyền kỹ thuật hay phân quyền theo chức năng) quyền tự quản lý với những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định, có tư cách pháp nhân và những nguồn thu dưới sự kiểm soát của nhà nước chủ yếu về mặt pháp chế. Hội đồng tỉnh, hội đồng xã là những cơ quan được phân quyền theo lãnh thổ. Phân quyền này khác với phân quyền quản lý ở Việt Nam (x. Phân cấp quản lý). Nó cũng khác với tản quyền, vd. ở Pháp, cách tổ chức cơ cấu hành chính trong đó một cơ quan ở trung ương (bộ) giao một số quyền quyết định cho một cơ quan trong hệ thống cơ quan hành chính nhưng vẫn phụ thuộc vào mình. Một ví dụ về trung ương tản quyền (Ph. déconcentration administrative) ở Việt Nam hồi thuộc Pháp. Sau Hòa ước Giáp Thân 1884, Chính phủ Pháp lấy cớ là Bắc Kỳ rộng lớn, xa cách triều đình Huế, khiến cho công việc cai trị không được nhanh chóng, đã thúc ép hoàng đế Việt Nam ban bố đạo dụ Kinh lược sứ Bắc Kỳ để việc điều khiển nền hành chính và tư pháp ở Miền Bắc được trao cho Kinh lược sứ. Vị này có toàn quyền thay mặt Hoàng đế để giao thiệp với đại diện chính phủ Pháp tại Bắc Kỳ và quyết định những công việc hành chính khẩn cấp và cần thiết. Chế độ kinh lược sứ không tồn tại được bao lâu, do sự thúc ép của Chính phủ Pháp, vua lại ban hành đạo dụ ngày 26.7.1897 bãi bỏ chức quan kinh lược sứ và giao cho chức vụ này cho viên thống sứ Bắc Kỳ người Pháp kiêm nhiệm. Từ đó, toàn quyền lực của hoàng đế Việt Nam ở Bắc Kỳ không còn về pháp lý cũng như về thực tiễn. Phân quyền khác với việc phân chia ba quyền (tam quyền phân lập).