Định nghĩa pháp lý chính thức, trích dẫn từ văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
"1. Quyền của các dân tộc trong một quốc gia không bị phân biệt theo trình độ phát triển, màu da, đa số, thiểu số … đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Quyền bình đẳng dân tộc ở Việt Nam được ghi trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992. Điều 8 - Hiến pháp năm 1946 quy định: ""ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung"". Điều 5 - Hiến pháp năm 1992 quy định: ""Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kì thị, chia rẽ dân tộc ..."". 2. Quyền của các dân tộc đã hợp thành quốc gia (quyền của quốc gia) không phân biệt lớn, nhỏ, trình độ phát triển, chế độ chính trị, kinh tế... có địa vị quốc tế bình đẳng với các quốc gia khác, được tôn trọng độc lập, lãnh thổ toàn vẹn, chủ quyền... Chủ nghĩa thực dân, đế quốc đã chà đạp lên quyền bình đẳng của các dân tộc, áp bức các quốc gia nhỏ, kém phát triển, thi hành chính sách thực dân cũ và mới để bóc lột, chia rẽ các dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tố cáo tội ác của chúng và nêu rõ trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2.9.1945 ""Tất cả các dân tộc đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do"". (Xt. Quyền dân tộc cơ bản)."