|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2891/QĐ-UBND |
Bình Định, ngày 07 tháng 9 năm 2022 |
VỀ VIỆC BAN HÀNH CẬP NHẬT KẾ HOẠCH PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI GIAI ĐOẠN NĂM 2021 - 2025 TỈNH BÌNH ĐỊNH
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức Chính quyền địa phương ngày 19/6/2015 và Luật Sửa đổi bổ sung một số điều Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương ngày 22/11/2019;
Căn cứ Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19/6/2013; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều ngày 17/6/2020;
Căn cứ Thông tư số 02/2021/TT-BNNPTNT ngày 07/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp ở địa phương;
Xét đề nghị của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Tờ trình số 292/TTr-SNN ngày 30 tháng 8 năm 2022.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này cập nhật Kế hoạch Phòng chống thiên tai giai đoạn 2021 - 2025 tỉnh Bình Định.
Điều 2. Giao Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố, các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm tổ chức, triển khai thực hiện Kế hoạch.
Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Thành viên Ban chỉ huy PCTT- TKCN và PTDS tỉnh, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này kể từ ngày ký./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI GIAI ĐOẠN NĂM 2021 - 2025 TỈNH BÌNH ĐỊNH
MỤC LỤC
CẬP NHẬT KẾ HOẠCH PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI GIAI ĐOẠN 2021 - 2025 TỈNH BÌNH ĐỊNH
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH BÌNH ĐỊNH
PHẦN 1 - TÌNH HÌNH THIÊN TAI VÀ CÁC THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
CHƯƠNG I: CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ VÀ MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Các căn cứ pháp
2. Mục đích, yêu cầu
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI, CƠ SỞ HẠ TẦNG CHỦ YẾU
1. Vị trí địa lý
2. Đặc điểm địa hình
3. Đặc điểm địa chất
4. Đặc điểm khí tượng, thủy văn, hải văn
5. Đặc điểm dân sinh
6. Đặc điểm kinh tế - xã hội
7. Đặc điểm cơ sở hạ tầng
8. Các cơ sở tôn giáo
CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
1. Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến PCTT
2. Hệ thống chỉ huy PCTT và TKCN các cấp và quy chế phối hợp
3. Công tác dự báo, cảnh báo sớm
4. Phương tiện, vật tư, trang thiết bị phục vụ Phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn
5. Lực lượng cứu hộ, cứu nạn
6. Thông tin, truyền thông trong Phòng, chống thiên tai
7. Năng lực và nhận thức của cộng đồng trong Phòng, chống thiên tai
8. Đánh giá năng lực các cơ sở hạ tầng phòng chống thiên tai
9. Đánh giá thực hiện lồng ghép nội dung PCTT trong các chương trình, dự án, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội
10. Đánh giá về công tác phục hồi, tái thiết
11. Nguồn lực tài chính thực hiện công tác phòng, chống thiên tai
CHƯƠNG IV: ĐÁNH GIÁ RỦI RO THIÊN TAI
1. Độ lớn của thiên tai
2. Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương
3. Nhận định về nguy cơ thiên tai và tình hình thời tiết hiện nay
PHẦN 2 - KẾ HOẠCH PHÒNG NGỪA, ỨNG PHÓ VÀ KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
CHƯƠNG V: CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
I. Tổ chức phòng ngừa, giảm thiểu
1. Giải pháp phi công trình
2. Giải pháp công trình
II. Biện pháp ứng phó
1. Trách nhiệm ứng phó với từng cấp độ rủi ro thiên tai
2. Công tác sơ tán dân về nơi an toàn
3. Thiết lập hệ thống thông tin liên lạc khẩn cấp
4. Triển khai công tác bảo đảm y tế:
5. Tổ chức ứng cứu trên biển
6. Bảo đảm thoát nước đô thị
7. Cung cấp nước sạch cho dân cư
8. Triển khai phương án ứng phó với thiên tai
9. Huy động nguồn lực cho công tác ứng phó thiên tai:
III. Tổ chức khắc phục hậu quả, tái thiết sau thiên tai
1. Triển khai công tác tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và nhu yếu phẩm thiết yếu
2. Thống kê, đánh giá thiệt hại, nhu cầu cứu trợ và đề xuất phương án
3. Hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, vật tư, trang thiết bị, nhiên liệu thiết yếu khác để phục hồi sản xuất
4. Cung ứng vật tư, hàng hóa thiết yếu và thực hiện biện pháp quản lý giá, bình ổn thị trường
5. Thực hiện vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh ở khu vực bị tác động thiên tai
6. Sửa chữa, khôi phục, nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức và năng lực của cộng đồng về Phòng, chống thiên tai (Kế hoạch trung hạn)
CHƯƠNG VI: NGUỒN VỐN VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN
1. Nguồn vốn thực hiện:
2. Tiến độ thực hiện
CHƯƠNG VII: TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
1. Xây dựng kế hoạch tài chính
2. Tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch
3. Báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch
4. Rà soát, đánh giá, cập nhật kế hoạch
5. Tổ chức thực hiện
CÁC PHỤ LỤC VÀ BIỂU MẪU KÈM THEO
Phụ lục 1: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2021 tỉnh Bình Định
Phụ lục 2: Cơ cấu kinh tế phân theo ngành giai đoạn 2010 - 2021
Phụ lục 3: Phân công nhiệm vụ các thành viên ban chỉ huy PCTT - TKCN và PTDS tỉnh
Phụ lục 4: Danh mục trang thiết bị phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố, thiên tai và TKCN toàn tỉnh
Phụ lục 5: Thiệt hại do thiên tai trên địa bàn tỉnh bình định từ năm 2001 đến năm 2021
Phụ lục 6: Danh mục đầu tư, nâng cấp hồ chứa nước giai đoạn 2021 - 2025
Phụ lục 7: Danh mục xây dựng, nâng cấp đê kè biển giai đoạn 2021 - 2025
Phụ lục 8: Danh mục xây dựng, nâng cấp đê kè sông giai đoạn 2021 - 2025
Phụ lục 9: Kế hoạch xây dựng, nâng cấp đập dâng giai đoạn 2021 -2025
Phụ lục 10: Kế hoạch xây dựng, nâng cấp, khắc phục hệ thống thủy lợi giai đoạn 2021 -2025
Phụ lục 11: Kế hoạch thực hiện kiên cố hóa kênh mương năm 2022
Phụ lục 12: Danh mục dự án sắp xếp, ổn định dân cư giai đoạn 2021 - 2025 tỉnh Bình Định
Phụ lục 13: Kế hoạch đầu tư, nâng cấp công trình xây dựng giai đoạn 2021 - 2025
Phụ lục 14: Kế hoạch đầu tư, nâng cấp công trình giao thông trọng tâm giai đoạn 2021 - 2025
Phụ lục 15: Dự án đầu tư, nâng cấp công trình cấp nước sạch nông thôn giai đoạn 2021 - 2025
Phụ lục 16: Danh mục trọng tâm kế hoạch phòng chống thiên tai giai đoạn 2021 - 2025 tỉnh Bình Định
Phụ lục 17: Biểu tổng hợp thiệt hại
CẬP
NHẬT KẾ HOẠCH PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI GIAI ĐOẠN 2021 - 2025 TỈNH BÌNH
Kèm
theo Quyết định số: 2891/QĐ-UBND ngày 07/9/2022 của UBND tỉnh)
Trong giai đoạn từ năm 2016 - 2020 công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai tỉnh Bình Định đã có những bước phát triển đáng kể, chuyển từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa. Các địa phương trong tỉnh đã chủ động hơn trong công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội; trong đó, công tác lập Kế hoạch Phòng, chống thiên tai 5 năm và cập nhật hàng năm giữ vai trò rất quan trọng và luôn được chính quyền các cấp và các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện.
Trước diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 987/QĐ-TTg ngày 09/7/2020 kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Thông tư số 02/2021/TT-BNNPTNT ngày 07/6/2021 hướng dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp địa phương và Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 15/3/2022 kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia đến năm 2025.
Thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW, Quyết định số 987/QĐ-TTg; UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3985/QĐ-UBND phân công nhiệm vụ thực hiện Kế hoạch 77-KH/TU ngày 09/7/2020 của Tỉnh ủy về kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW. Đồng thời UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND các cấp triển khai thực hiện Thông tư số 02/2021/TT-BNNPTNT xây dựng, cập nhật kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp địa phương trên địa bàn tỉnh tại văn bản số 5366/UBND-KT ngày 28/8/2021.
Sở Nông nghiệp và PTNT tổ chức cập nhật Kế hoạch Phòng, chống thiên tai giai đoạn 2021 - 2025 tỉnh Bình Định trong khung kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia đến năm 2025 và các kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương giai đoạn 2021 - 2025 và năm 2022. Nội dung cập nhật Kế hoạch gồm có 2 phần:
Phần 1: Tình hình thiên tai và các thông tin cơ bản về Phòng chống thiên tai.
Phần 2: Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả.
Và các phụ lục, biểu mẫu kèm theo.
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH BÌNH ĐỊNH

PHẦN 1: TÌNH HÌNH THIÊN TAI VÀ CÁC THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
CHƯƠNG I. CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ VÀ MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
- Luật Phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13 ngày 19/6/2013.
- Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều, có hiệu lực từ ngày 01/7/2021.
- Luật Đầu tư công ngày 18/6/2014;
- Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06/72021 của Chính phủ quy định chi tiết, thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều.
- Nghị định số 78/2021/NĐ-CP ngày 01/8/2021 về thành lập và quản lý Quỹ phòng, chống thiên tai;
- Quyết định số 1061/QĐ-TTg ngày 01/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phòng, chống thiên tai;
- Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg ngày 15/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chi tiết về cấp độ rủi ro thiên tai;
- Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 03/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 18/6/2018 của Chính phủ về công tác phòng, chống thiên tai.
- Quyết định số 03/2020/QĐ-TTg ngày 13/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai;
- Quyết định số 233/QĐ-UBND ngày 20/01/2020 của UBND tỉnh Bình Định ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 18/6/2018 của Chính phủ về công tác phòng, chống thiên tai.
- Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.
- Kế hoạch số 77-KH/TU ngày 9/7/2020 của Tỉnh ủy triển khai thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.
- Quyết định số 987/QĐ-TTg ngày 9/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.
- Quyết định 379/QĐ-TTg ngày 17/03/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 1978/QĐ-TTg ngày 24/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 08/4/2022 của UBND tỉnh về công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2022 trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra trên địa bàn tỉnh.
- Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 15/03/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia đến năm 2025.
- Quyết định số 5039/QĐ-UBND ngày 17/12/2021 của UBND tỉnh về việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương giai đoạn 2021 - 2025.
- Quyết định số 5079/QĐ-UBND ngày 20/12/2021 của UBND tỉnh về việc phân bổ và giao kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước năm 2022.
- Quyết định số 1113/QĐ-UBND ngày 06/4/2022 của UBND tỉnh về việc về việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương giai đoạn 2021-2025 và kế hoạch đầu tư công năm 2022.
- Nghị Quyết số 82/NQ-HĐND ngày 11/12/2021của HĐND tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Sửa chữa, nâng cấp các hồ chứa nước hư hỏng, xuống cấp giai đoạn 2021-2025.
- Nghị Quyết số 18/NQ-HĐND ngày 20/7/2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Định về việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2021-2025 và kế hoạch năm 2022.
- Quyết định số 09/QĐ-BCH-PCTT ngày 12/02/2022 của UBND tỉnh ban hành Ban hành Kế hoạch công tác năm 2022 của Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai - Tìm kiếm cứu nạn và Phòng thủ dân sự tỉnh.
- Quyết định số 501/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược Quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh Bình Định.
- Quyết định số 1655/QĐ-UBND ngày 26/5/2022 của UBND tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Bình Định.
- Quyết định số 1802/QĐ-UBND ngày 06/6/2022 của UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh Bình Định.
- Quyết định số 287/QĐ-SNN ngày 27/4/2022 của Sở Nông nghiệp và PTNT phê duyệt dự toán kinh phí không thường xuyên và kinh phí không thực hiện chế độ tự chủ năm 2022 của Chi cục Thủy lợi.
- Thông tư 02/2021/TT-BNNPTNT ngày 07/6/2021 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp ở địa phương.
- Văn bản số 5126/BNN-PCTT ngày 13/8/2021của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc triển khai Thông tư 02/2021/TT-BNNPTNT.
- Văn bản số 5366/UBND-KT ngày 28/8/2021 của UBND tỉnh về việc triển khai thực hiện Thông tư hướng dẫn xây dựng Kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp địa phương trên địa bàn tỉnh.
Cập nhật Kế hoạch Phòng, chống thiên tai giai đoạn 2021 - 2025 tỉnh Bình Định nhằm xác định cụ thể: các nhiệm vụ, chương trình, đề án, dự án được giao chủ trì hoặc phối hợp thực hiện bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất và hiệu quả trong quá trình thực hiện Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia đến năm 2025; các nhiệm vụ, chương trình, đề án, dự án phòng chống thiên tai trọng tâm của tỉnh phù hợp với kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025, kế hoạch đầu tư công năm 2022 nhằm phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Cập nhật Kế hoạch Phòng, chống thiên tai giai đoạn 2021 - 2025 tỉnh Bình Định theo hướng dẫn của Thông tư 02/2021/TT-BNNPTNT; phù hợp với các Quyết định số 501/QĐ-UBND, Quyết định số 342/QĐ-TTg, Quyết định số 5039/QĐ-UBND, Quyết định số 5079/QĐ-UBND, Quyết định số 1113/QĐ-UBND, Nghị quyết số 18/NQ-HĐND và Quyết định số 287/QĐ-SNN.
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI, CƠ SỞ HẠ TẦNG CHỦ YẾU
Bình Định là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam, diện tích tự nhiên 6.066,4 km2, diện tích vùng lãnh hải 36.000 km2. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, điểm cực Bắc 14°42'10 Bắc, 108°55'4 Đông. Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực Nam 13°39'10 Bắc, 108°54'00 Đông. Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, điểm cực Tây 14°27' Bắc, 108°27' Đông. Phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Qui Nhơn, có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21' Đông. Bình Định được đánh giá là có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào, đông bắc Campuchia và Thái Lan.
Địa hình của tỉnh thấp dần từ Tây sang Đông, với độ chênh lệch khoảng 1.000 m. Các dạng địa hình phổ biến: Vùng núi đồi và trung du, vùng đồng bằng và vùng ven biển.
Vùng núi đồi và trung du diện tích 4.200 km2 với độ cao trung bình 500 - 1.000 m. Các dãy núi chạy theo hướng Bắc - Nam, có sườn dốc đứng. Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp. Vùng đồi tiếp giáp giữa miền núi phía Tây và đồng bằng phía Đông, có diện tích 1.600 km2, có độ cao dưới 100 m, độ dốc tương đối lớn từ 100 - 150. Vùng đồng bằng diện tích khoảng 1.000 km2, được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, đồi cát hay dãy núi. Vùng ven biển gồm các cồn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển, độ cao vài chục mét. Bình Định còn có 33 đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Nhơn Châu là đảo lớn nhất diện tích 3,64 km2 có trên 2.000 dân.
Ngoài các vùng địa hình đặc trưng nói trên, Bình Định có khá nhiều sông. Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp, tổng trữ lượng nước 5,2 tỷ m3, tiềm năng thuỷ điện 182,4 triệu kw. Có 4 sông lớn là: Lại Giang, Kôn, La Tinh và Hà Thanh. Nhiều hồ nhân tạo được xây dựng để phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản. Đặc biệt, đầm Thị Nại là đầm lớn, rất thuận lợi cho việc phát triển cảng biển tầm cỡ quốc gia và góp phần phát triển khu kinh tế Nhơn Hội.
3.1. Về cấu trúc: Khu vực tỉnh Bình Định nằm ở rìa phía Đông của địa khối Kon Tum, có cấu trúc địa chất không đồng nhất, có chế độ hoạt động kiến tạo lâu dài và thay đổi khá phức tạp. Nhìn tổng quát có thể thấy rõ ở phần phía Bắc tỉnh chủ yếu lộ móng kết tinh tiền Camri cùng các thành hệ macma xâm nhập cổ. Phần phía Nam dập vỡ mạnh mẽ thành tạo chồng chất các phức hệ macma xâm nhập và phun trào trẻ. Trên cơ sở phân tích thành hệ đặc điểm biến chất uốn nếp, đứt gãy và sự không khớp của các phân vị địa tầng có thể chia ra các đơn vị cấu trúc sau:
- Phức hệ thành hệ cấu trúc địa máng Ackeiozoi trên vỏ đại dương nguyên thủy: Phức hệ thành hệ cấu trúc này bao gồm các thành hệ cấu trúc tướng granulit dày trên 3.000 m của các hệ tầng Kongro, Bồng Sơn, phân bố khá rộng rãi trên phần lãnh thổ các huyện: Hoài Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh, Phù Mỹ và thị xã Hoài Nhơn.
- Phức hệ thành hệ cấu trúc địa máng Protezozoi dưới, trên vỏ lục địa nguyên thủy: Phức hệ thành hệ cấu trúc này bao gồm các thành hệ lục nguyên phun trào bazan, lục nguyên phun trào andezit, lục nguyên cacbonat bị biến chất, biến tướng amfibolit. Trong diện tích của tỉnh chỉ còn tồn tại một vài khối nhỏ phân bố ở phía Nam huyện Vân Canh.
- Phức hệ thành hệ cấu trúc tạo núi Mezozoi - Kainozoi: Cấu thành phức hệ thành tạo này bao gồm các thành hệ trầm tích lục nguyên, lục nguyên phun trào axit, lục nguyên phun trào andezit, lục nguyên phun trào bazan và các trầm tích bở rời.
3.2. Về kiến tạo: Trong khu vực Bình Định các hoạt động kiến tạo phá hủy xảy ra khá mạnh mẽ và đa dạng. Nhưng nhìn chung có 2 hệ thống đứt gãy chính, đó là hệ thống Tây Bắc - Đông Nam (á kinh tuyến) và hệ thống Đông Bắc - Tây Nam (á vĩ tuyến). Chúng phát triển thành đới kéo dài từ 50 - 70 km.
4. Đặc điểm khí tượng, thủy văn, hải văn
4.1. Khí hậu
Bình Định thuộc khí hậu duyên hải Nam Trung Bộ - miền khí hậu Đông Trường Sơn. Có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 1 - 8, mùa mưa từ tháng 9 - 12, thường xuất hiện nắng nóng và khô hạn. Mùa mưa thường chịu ảnh hưởng các cơn bão với tần suất trung bình từ 1 - 2 cơn/năm, thường gây ra lũ lụt.
Khí hậu Bình Định được phân thành ba vùng chính: Vùng 1 là vùng núi phía Tây Bắc của tỉnh bao gồm huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, các xã phía Tây huyện Hoài Ân và các xã vùng núi phía Tây thị xã Hoài Nhơn. Vùng này có tổng lượng mưa năm từ 2.200 mm trở lên, nhiệt độ trung bình năm dưới 260 C. Vùng 2 là vùng núi phía Nam tỉnh bao gồm huyện Tây Sơn, Vân Canh và các xã phía Tây huyện Phù Cát, có tổng lượng mưa năm từ 1.800 - 2.100 mm, nhiệt độ trung bình năm dưới 260 C. Vùng 3 là vùng đồng bằng ven biển, có tổng lượng mưa năm từ 1.700 - 2.200 mm, nhiệt độ trung bình năm trên 260 C.
- Chế độ nhiệt: Tổng lượng bức xạ hàng năm khá cao: Từ 140 đến 150 cal/cm2. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,100 C. Trung bình cao nhất là 34,60 C, trung bình thấp nhất là 19,900 C. Biên độ ngày đêm trung bình 5 - 80 C.
- Số giờ nắng: Bình Định là tỉnh nằm trong vùng có số giờ nắng khá cao; trung bình hàng năm có số giờ nắng 2.200 - 2.400 giờ. Thời kỳ nhiều nắng là từ tháng 3 đến tháng 9 và tháng ít nắng là tháng 11 và tháng 12.
- Bốc hơi: Lượng bốc hơi tiềm năng trong năm và tăng dần từ Bắc vào Nam tỉnh. Tại Hoài Nhơn là 1.029 mm và tăng dần đến Quy Nhơn là 1.131 mm. Bốc hơi tập trung trong các tháng mùa hạ từ tháng 6 - 8 và tháng có lượng bốc hơi ít là tháng 10, tháng 11.
- Chế độ ẩm: Độ ẩm trong khu vực khá thấp, trung bình hàng năm khoảng 79%. Từ tháng 10 - 12 hàng năm tương đối ẩm và từ tháng 1 - 9 là thời kỳ khô.
- Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.800 - 3.300 mm. Lượng mưa giảm dần từ Bắc đến Nam tỉnh, cao nhất vùng núi huyện An Lão 3.300 mm, thấp nhất tại huyện Tuy Phước với lượng mưa dưới 1.700 mm.
+ Mùa mưa ngắn, chỉ tập trung vào 4 tháng từ tháng 9 - 12, chiếm 70% đến 80% tổng lượng mưa năm. Do mùa mưa ngắn, cường độ mưa lớn nên thường gây ngập, lụt làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.
+ Mùa khô kéo dài từ tháng 1 - 8, lượng mưa 20% đến 30% tổng lượng mưa năm. Mùa khô thường xảy ra khô hạn, thiếu nước cho sản xuất, sinh hoạt.
- Gió, bão: Hướng gió mùa Đông là hướng Tây Bắc, sau đó đổi sang hướng Bắc và Đông Bắc. Mùa Hạ là hướng Tây hoặc Tây Nam. Bão thường tập trung vào tháng 9, 10, 11. Nhiều nhất là tháng 10 chiếm 47% tổng số cơn bão đổ bộ.
4.2. Mạng lưới sông ngòi
Bình Định có 4 lưu vực sông chính là Lại Giang, sông La Tinh, sông Kôn và sông Hà Thanh. Đặc điểm các sông theo thứ tự từ bắc vào nam như sau: tổng chiều dài 352 km, tổng diện tích lưu vực 5.699 km2 với các đặc điểm chính:
- Sông Lại Giang: Là con sông lớn thứ hai của tỉnh Bình Định có diện tích lưu vực là 1.466 km2, dài 73 km. Sông bắt nguồn từ các dãy núi đông Trường Sơn có đỉnh cao từ 900 m đến 1.000 m đổ ra biển ở cửa An Dũ. Sông Lại Giang gồm 2 nhánh sông lớn chính là sông An Lão và sông Kim Sơn.
+ Sông An Lão bắt nguồn từ vùng núi cao của huyện An Lão và Ba Tơ, chảy theo hướng bắc - nam đến Lại Khánh thì nhập với sông Kim Sơn thành sông Lại Giang, chảy theo hướng Tây nam - Đông bắc rồi đổ ra biển.
+ Sông Kim Sơn bắt nguồn từ vùng núi cao của huyện Hoài Ân, chảy theo hướng tây nam - đông bắc đến Lại Khánh nhập với sông An Lão thành sông Lại Giang.
- Sông La Tinh: Lưu vực sông La Tinh thuộc địa bàn hai huyện Phù Mỹ và Phù Cát. Sông bắt nguồn từ sườn đông dãy núi cao xã Cát Sơn, có diện tích lưu vực 719 km2, chiều dài sông 52 km và chảy vào đầm Đề Gi. Ngoài sông chính còn có các nhánh Kiều Duyên dài 20 km, diện tích lưu vực 179 km2; nhánh sông Cạn 61,4 km2; nhánh Đức Phổ 34,6 km2.
- Sông Kôn: là sông lớn nhất trong các sông trong tỉnh có tổng diện tích lưu vực là 3.067 km2, dài 178 km. Sông bắt nguồn từ vùng rừng núi của dãy Trường Sơn ở độ cao 700 - 1000 m. Sông chảy theo hướng tây bắc - đông nam đến Bình Tường rồi chảy theo hướng tây - đông và đến Bình Thạnh sông chia thành hai nhánh chính: Nhánh Đập Đá chảy ra cửa An Lợi rồi đổ vào đầm Thị Nại; nhánh Tân An có nhánh sông Gò Chàm cách ngã ba về phía hạ lưu khoảng 2 km, sau khi chảy trên vùng đồng bằng rồi nhập với sông Tân An cùng đổ vào đầm Thị Nại tại cửa Tân Giảng. Tất cả các nhánh sông Đập Đá và Tân An sau khi đổ vào đầm Thị Nại được thông ra biển qua cửa Quy Nhơn.
- Sông Hà Thanh: Sông Hà Thanh có diện tích lưu vực là 580 km2, chiều dài dòng sông chính là 48 km. Sông bắt nguồn ở những đỉnh núi cao trên 1.100 m ở huyện Vân Canh, chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc. Tới cầu Diêu Trì, sông chia thành hai nhánh Hà Thanh và Trường Úc đổ vào đầm Thị Nại rồi chảy ra biển.
4.3. Hải văn
Khu vực bờ biển thềm lục địa tỉnh Bình Định có diện tích khoảng 36.000 km2, lớn gấp 6 lần diện tích tự nhiên của tỉnh. Do sự lấn sát của các khối kiến tạo phía Tây ra biển, nên ngoài dải hẹp ven bờ có độ dốc nhỏ, còn lại phần lớn có độ dốc lớn và có nhiều nếp gấp, từ Quy Nhơn đến Tam Quan các đường đẳng sâu 50 m, 200 m hầu như chạy song song với vạch bờ. Trong đó từ bờ ra đến độ sâu 500 m độ dốc đáy biển nhỏ và biến đổi chậm, từ độ sâu 500 m ra đến 2.000 m là khu vực biển có độ dốc lớn nhất của vùng biển này. Khu vực biển tỉnh Bình Định chịu ảnh hưởng lớn và quyết định của hệ thống gió mùa Đông Bắc (NE), gió mùa Tây Nam (SW) và hệ thống dòng chảy cũng như chế độ thủy triều trong biển Đông.
Thủy triều: Chế độ thủy triều vùng biển Bình Định cũng như chế độ triều vùng biển Quảng Ngãi đến Bình Thuận là chế độ nhật triều không đều. Tại Quy Nhơn hàng tháng số ngày nhật triều chiếm khoảng 18 - 22 ngày, thời gian triều dâng lâu hơn thời gian triều rút. Độ lớn thủy triều trung bình phân bố trong năm có thể phân chia thành hai nhóm: trong các tháng 11, 12 và tháng 2, độ lớn thủy triều đạt giá trị trong khoảng từ 102 - 112 cm. Trong các tháng 5, 6, 7 và 8, giá trị độ lớn thủy triều trong khoảng từ 107 - 120 cm. Các tháng 3, 4, 9 và 10, giá trị độ lớn thủy triều tương đối thấp và nằm trong khoảng từ 91 - 99 cm. Nhìn chung, các tháng giữa mùa gió Tây Nam có độ lớn thủy triều trung bình cao nhất. Tháng có độ lớn thủy triều trung bình lớn nhất là tháng 6 (120 cm) và tháng có độ lớn thủy triều trung bình nhỏ nhất là tháng 3 (91 cm). Độ lớn thủy triều trung bình cả năm là 105 cm.
4.4. Đặc điểm về thiên tai
Tỉnh Bình Định có các loại thiên tai chính là bão, mưa lớn gây lũ lụt, sạt lở đất và hạn hán.
Bão và áp thấp nhiệt đới thường xuất hiện vào mùa mưa từ tháng 9 - 12. Trung bình mỗi năm chịu tác động trực tiếp của 1 - 2 cơn bão. Khi vào đất liền, bão gây gió mạnh tới cấp 11 - 12. Theo phân vùng của Bộ Tài nguyên và Môi trường, bão đổ bộ vào Bình Định có thể tới cấp 16. Bão thường gây mưa từ 200 - 300 mm trong 2 - 3 ngày.
Lũ lụt xảy ra trên phạm vi rộng, bình quân mỗi năm xảy ra 3 - 4 đợt lũ. Lũ chính vụ xuất hiện vào tháng 10, 11. Thời gian mưa gây lũ mỗi đợt thường từ 2 - 3 ngày, có đợt lên đến 5 ngày; tổng lượng mưa từ 200 - 300 mm, có đợt lên đến 400 - 750 mm. Đợt lũ lịch sử từ ngày 14 - 17/11/2013 lượng mưa phổ biến từ 250 - 450 mm. Tổng lượng dòng chảy mùa lũ chiếm tới 70% lượng dòng chảy năm.
Khô hạn xảy ra khi tháng 1 - 8 có lượng mưa ít, thiếu hụt từ 50 - 70% so với lượng mưa trung bình nhiều năm cùng kỳ, nhiệt độ cao, độ ẩm thấp. Hầu hết các lưu vực sông thường xảy ra khô hạn khi nắng nóng kéo dài. Các năm 1983, 1987, từ 1991 - 1993, 1998, 2014 - 2020, hạn hán liên tục xảy ra.
5.1. Dân số, lao động và việc làm
Dân số trung bình của Bình Định là 1.508.322 người (theo Niên giám thống kê năm 2021), tăng 20.419 người, tương đương 1,372% so với năm 2020, bao gồm dân số thành thị 620.809 người, chiếm 41,16%; dân số nông thôn 887.513 người, chiếm 58,84%; dân số nam 742.865 người, chiếm 49,25%, dân số nữ 765.457 người, chiếm 50,75%.
Cộng đồng dân cư gồm nhiều dân tộc cùng chung sống. Trong đó, người Kinh chiếm 97,2%; dân tộc khác chiếm 2,1%.
Dân số phân bố không đều, thành phố Quy Nhơn có quy mô dân số lớn nhất 293.263 người, huyện An Lão có quy mô dân số thấp nhất 28.106 người. Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh 248,6 người/km2. Mật độ dân số ở các huyện, thị xã, thành phố đồng bằng ven biển có mật độ trên 450 người/km2, ở miền núi trung bình 131,5 người/km2, thấp nhất là huyện Vân Canh 35,2 người/km2. Chi tiết theo Phụ lục 1.
Tuổi thọ trung bình dân số tỉnh Bình Định năm 2021 là 73,47 năm, trong đó nam là 70,88 năm và nữ là 76,21 năm.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính năm 2021 là 834.137 người (trong đó nam chiếm 51,9% và nữ chiếm 48,1%). Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế 2021 ước đạt 814.058 người.
Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo đạt 24,5%, trong đó lao động đã qua đào tạo khu vực thành thị đạt 37,63%, khu vực nông thôn đạt 15,83%.
Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi là 2,75%, trong đó khu vực thành thị là 3,77%, khu vực nông thôn là 2,02%; tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi là 2,16%, trong đó khu vực thành thị là 2,61%, khu vực nông thôn là 1,84%.
5.2. Vùng có nguy cơ
Các huyện miền núi An Lão, Hoài Ân, Vĩnh Thạnh, Vân Canh có tổng diện tích tự nhiên 296.610 ha chiếm 49% đất tự nhiên; đa số diện tích là đồi núi. Dân số 174.909 người chiếm 12% dân số cả tỉnh. Trong các đợt mưa lũ hàng năm mức độ thiệt hại ít hơn so với các vùng khác. Tuy nhiên, khi xảy ra thiên tai, khả năng hỗ trợ ứng phó sẽ khó khăn hơn. Loại hình thiên tai thường xảy ra mưa lớn, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất, sét, lốc xoáy, hạn hán, cháy rừng và sương mù.
Các huyện, thị xã, thành phố đồng bằng Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tây Sơn, An Nhơn, Tuy Phước và Quy Nhơn có tổng diện tích tự nhiên 310.030 ha chiếm 51% đất tự nhiên, dân số 1.333.413 người chiếm 88% dân số. Trong các đợt mưa lũ hàng năm mức độ thiệt hại so với vùng núi thường trầm trọng hơn. Đây là nơi tập trung các khu dân cư, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, du lịch, công nghiệp, các đầu mối giao thông và toàn bộ vùng đồng bằng trù phú của tỉnh. Loại hình thiên tai thường xảy ra bão, mưa lớn, lũ, ngập lụt, sạt lở đất, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán và cháy rừng.
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2021 (theo giá so sánh 2010) ước đạt 51.629,8 tỷ đồng, tăng 4,11% so với năm 2020. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 14.061 tỷ đồng, tăng 2,95%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 15.371,5 tỷ đồng, tăng 8,49%; riêng công nghiệp ước đạt 10.215,8 tỷ đồng, tăng 10,4%; khu vực dịch vụ ước đạt 19.843,5 tỷ đồng, tăng 1,48%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 2.353,8 tỷ đồng, tăng 6,44% (Nguồn tài liệu báo cáo theo Niên giám thống kê tỉnh Bình Định năm 2021 của Cục Thống kê Bình Định).
Tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá hiện hành ước đạt 95.311,4 tỷ đồng. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 27.970,1 tỷ đồng, chiếm 29,3%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 28.258,2 tỷ đồng, chiếm 29,6%; khu vực dịch vụ ước đạt 34.791,4 tỷ đồng, chiếm 36,5%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 4.291,7 tỷ đồng, chiếm 4,6%.
Cơ cấu tổng sản phẩm (GRDP) các ngành kinh tế của thời kỳ năm 2010 - 2021 chuyển dịch theo hướng tích cực với tỷ trọng cụ thể như sau:
- Năm 2010 tỷ trọng ngành Nông - Lâm - Thủy sản là 32%, Công nghiệp - Xây dựng là 22,0% , Dịch vụ là 41,9%, và thuế sản phẩm là 4,1%.
- Năm 2021 tỷ trọng ngành Nông - Lâm - Thủy sản là 29,3%, Công nghiệp - Xây dựng là 29,6% và Dịch vụ là 36,5%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm là 4,6%. Chi tiết theo Phụ lục 2.
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của Bình Định (theo giá so sánh 2010) năm 2010 đạt 26.855,3 tỷ đồng đến năm 2021 đã đạt 95.311,4 tỷ đồng.
Về đất đai, hiện có 141.120 ha đất nông nghiệp (bao gồm: đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm); 376.421 ha đất lâm nghiệp có rừng; 2.723 ha đất nuôi trồng thủy sản, 213 ha đất làm muối; 75.862 ha đất phi nông nghiệp và 9.271 ha đất chưa sử dụng (Niên giám thống kê năm 2021).
7.1. Nhà ở, khu đô thị, kinh tế, công nghiệp
Toàn tỉnh có 246.270 nhà kiên cố trên tổng số 392.850 nhà, chiếm 63%; còn 37% là nhà bán kiên cố và đơn sơ tập trung vùng nông thôn, ven biển. Nhà bán kiên cố chỉ chịu được gió bão cấp 8, nhà đơn sơ chỉ chịu được gió bão cấp 6. Vì vậy, vùng nông thôn và ven biển khi xảy ra gió bão cấp 6 trở lên, các hộ gia đình nhà đơn sơ phải thực hiện sơ tán trước về nơi trú tránh an toàn. Vùng ven biển Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước và thành phố Quy Nhơn có hơn 36.000 người dân với 8.060 hộ cần có nhà ở kiên cố hoặc tái định cư về nơi an toàn. Cả tỉnh có 210.809 người cao tuổi, 755.105 phụ nữ là đối tượng đặc biệt quan tâm khi có thiên tai xảy ra.
Thành phố Quy Nhơn trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá của tỉnh có nhiều khu đô thị mới: Khu đô thị mới An Phú Thịnh tại phường Đống Đa, Nhơn Bình; khu đô thị Đại Phú Gia tại phường Nhơn Bình; khu đô thị Xanh Vũng Chua tại phường Ghềnh Ráng; khu đô thị An Phú tại phường Quang Trung…
Các khu kinh tế, khu công nghiệp đã và đang được triển khai xây dựng như: khu kinh tế Nhơn Hội 14.308 ha; Khu công nghiệp Phú Tài 328 ha, Long Mỹ 200 ha, Nhơn Hòa 314 ha; khu công nghiệp Hòa Hội 265 ha, khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ Becamex; Cụm công nghiệp Quang Trung, Nhơn Bình, Phước An, Bình Định, Gò Đá Trắng, Cát Nhơn,…
Có 09 nhà máy cấp nước đô thị và khu, cụm công nghiệp, 02 trạm bơm tăng áp do Công ty cổ phần Cấp thoát nước Bình Định quản lý, vận hành; 4 nhà máy nước do các đơn vị khác vận hành; 9 nhà máy xử lý nước thải; 12 trạm bơm nước thải thuộc Hệ thống xử lý nước thải thành phố Quy Nhơn.
Sự phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, các khu công nghiệp và các công trình xây dựng mới từng bước quy hoạch đồng bộ với tiêu thoát lũ, giảm thiểu sự úng ngập trong thành phố và vùng ngoại ô. Thiệt hại về tính mạng, nhà cửa, tài sản của dân và đặc biệt thiệt hại của các khu kinh tế, công nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân là mối quan tâm, lo lắng về tình trạng mưa bão, lũ lụt hiện nay.
7.2. Cơ sở giáo dục, đào tạo
Toàn tỉnh có 624 trường học và 01 Trung tâm GDTX. Trong đó: có 218 trường mầm non, 203 trường tiểu học, 141 trường Trung học cơ sở; 51 trường Trung học phổ thông, 7 trường phổ thông cơ sở, 3 trường trung học, 1 trường có 3 cấp học và 01 Trung tâm GDTX tỉnh; có 02 trường Đại học: Trường Đại học Quy Nhơn, Đại học Quang Trung; có 03 trường Cao đẳng: Trường Cao đẳng Bình Định (sáp nhập trường Cao đẳng kỹ thuật công nghệ Quy Nhơn), trường Cao đẳng nghề Quy Nhơn, Cao đẳng Nghề Cơ điện - Xây dựng và Nông lâm Trung bộ (thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT); 11 Trung tâm Giáo dục Nghề nghiệp - Giáo dục Thường xuyên và một số số Trung tâm đào tạo nghề phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh và khu vực.
Với 8.892 cán bộ giáo viên nữ, 57.107 học sinh mầm non, 128.996 học sinh tiểu học và 91.717 học sinh trung học cơ sở là đối tượng dễ bị tổn thương bởi mưa bão, lũ lụt.
7.3. Hệ thống bệnh viện, trung tâm y tế
Tính đến thời điểm ngày 31/12/2021, số cơ sở y tế là bệnh viện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã, phường, thị trấn là 186 cơ sở, gồm 22 bệnh viện (kể cả các Trung tâm Y tế huyện/thị xã/thành phố), 05 phòng khám đa khoa khu vực và 159 trạm y tế xã, phường, thị trấn. Số giường bệnh tính đến thời điểm nêu trên là 5.118 giường. Các cơ sở đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh nhân dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
Số nhân lực y tế là 6.957 người. Trong đó: 5.496 người làm việc trong ngành y, chiếm 79% và 1.461 người làm việc trong ngành dược, chiếm 21%.
Thực hiện Quyết định số 2348/QĐ-TTg ngày 05/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới; bằng nhiều nguồn vốn hợp pháp khác nhau UBND các cấp đã chủ động bố trí các nguồn vốn để tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị cho y tế cơ sở nhằm tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân và đảm bảo mọi người dân đều được hưởng các dịch vụ y tế cơ bản có chất lượng; đến nay các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh, trung tâm y tế huyện, thị xã, thành phố, trạm y tế xã, phường, thị trấn đã được xây dựng kiên cố hóa, chống chịu được gió bão cấp 9 - 10 và cũng là nơi khám chữa bệnh kết hợp tránh trú gió bão cho nhân dân.
7.4. Hệ thống đường giao thông
Bình Định có đủ các loại hình giao thông gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, đường hàng không và đường biển.
- Giao thông đường bộ: Mạng lưới đường bộ hiện nay trên địa bàn tỉnh dài 11.110,6km. Trong đó:
+ Quốc lộ có 05 tuyến (QL.1, QL.1D, QL.19, QL.19B và QL.19C) dài 305,9 km; cụ thể: QL.1 dài 118,3 km (giáp Quảng Ngãi tại Km1125+00 thuộc thị xã Hoài Nhơn, giáp Phú Yên tại Km1243+300 thuộc thành phố Quy Nhơn); QL.1D dài 21,6 km (điểm đầu giáp QL.1 tại Km1121+300 thuộc thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước, giáp Phú Yên tại Km21+600 thuộc thành phố Quy Nhơn); QL.19 dài 67,0 km (điểm đầu tại cảng Quy Nhơn đến giáp Gia Lai tại Km67+000 thuộc huyện Tây Sơn); QL.19B dài 59,7 km (có điểm đầu tại cảng nước sâu Nhơn Hội thuộc Khu kinh tế Nhơn Hội, điểm cuối giao với QL.19 tại Km41+120 thuộc thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, hiện tại có 1,6km đầu tuyến thuộc khu kinh tế Nhơn Hội chưa được xây dựng); QL.19C dài 39,3 km (điểm đầu giáp QL.1 tại Km1220+550, điểm cuối giáp Phú Yên tại Km39+300 thuộc huyện Vân Canh). Ngoài ra, tuyến QL.19 mới được đầu tư xây dựng hoàn thành dài 17,4 km (có điểm đầu tại cảng Quy Nhơn đến giao QL.1 tại Km1213+500); trong đó, có đoạn tuyến từ Km0 - Km2+480 đi trùng với đường QL.19 (đường Đống Đa).
+ Đường tỉnh có 11 tuyến dài 446,4 km; cụ thể: tuyến ĐT.629 (Bồng Sơn-An Lão), ĐT.630 (Hoài Đức-Kim Sơn), ĐT.631 (Nhơn Hưng-Phước Thắng), ĐT.632 (Phù Mỹ - Bình Dương), ĐT.633 (Chợ Gồm-Đề Gi), ĐT.634 (Hòa Hội-Hội Sơn), ĐT.636 (Gò Bồi-Bình Nghi), ĐT.637 (Vườn Xoài-Vĩnh Sơn), ĐT.638 (Chương Hòa- Long Vân), ĐT.639 (Quy Nhơn-Tam Quan), ĐT.640 (Ông Đô-Cát Tiến).
+ Đường giao thông nông thôn gồm có 53 tuyến đường huyện dài 542,4 km và các tuyến đường khác dài 9.169 km.
+ Đường đô thị dài 613,4km, đường kết nối dài 18,5 km và đường chuyên dùng dài 207 km.
- Giao thông đường sắt: Có tuyến đường sắt Bắc - Nam qua địa bàn tỉnh có chiều dài là 156,7 km, bao gồm tuyến chính Bắc - Nam dài 146,3 km, có 11 ga với ga chính là ga Diêu Trì; ngoài ra còn đoạn nối từ ga Diêu Trì đến ga Quy Nhơn có chiều dài 10,4 km. Ga Quy Nhơn là ga hành khách nằm trong nội thành.
- Giao thông đường biển:
+ Bình Định có đường bờ biển dài 134 km. Các bến cảng biển chính tập trung ở trong đầm Thị Nại, thành phố Quy Nhơn. Cụm cảng biển Quy Nhơn đóng vai trò quan trọng chiến lược về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, là cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực (loại I), bao gồm các khu bến chức năng: Quy Nhơn - Thị Nại, Nhơn Hội và bến Tam Quan.
+ Luồng hàng hải Quy Nhơn có tổng chiều dài tuyến luồng là 6,3 km; chiều rộng 110 m; cao độ đáy đạt -11,0 m; vũng quay trở tàu rộng 300 m, đủ điều kiện cho các tàu có trọng tải 50.000 DWT giảm tải ra vào luồng Quy Nhơn an toàn.
- Giao thông đường hàng không:
+ Cảng Hàng không Phù Cát (CHK Phù Cát) cách trung tâm thành phố Quy Nhơn 30km về phía Tây Bắc, cách Quốc lộ 1 khoảng 1,5km về hướng Tây; đây là sân bay sử dụng chung dân dụng và quân sự, đạt cấp 4C, đáp ứng khả năng khai thác các loại tàu bay A321, B737 và tương đương. Nhà ga hành khách có diện tích 8.397 m2, năng lực phục vụ 600 hành khách giờ cao điểm, công suất thiết kế 1,2-1,5 triệu hành khách/năm, có khả năng mở rộng để nâng công suất lên 2,4 triệu hành khách/năm.
+ Theo quy hoạch định hướng đến năm 2030: đạt cấp sân bay 4E và sân bay quân sự cấp I, công suất 4 triệu hành khách/năm, 50.000 tấn hàng hóa/năm, có 12 vị trí đỗ tàu bay, đáp ứng khả năng khai thác các loại tàu bay code E trở xuống như B777, A320, A321 và tương đương. Nhà ga hành khách có công suất đạt 2,4 triệu hành khách/năm, đồng thời cải tạo nhà ga hành khách đến năm 2030 đạt 4 triệu hành khách/năm.
- Giao thông đường thủy nội địa: Hệ thống giao thông đường thủy nội địa trên địa bàn tỉnh gồm: vùng nội thủy dọc bờ biển dài 134 km có diện tích khoảng 3.216 km2; đầm Thị Nại khoảng 50,6 km2; đầm Đề Gi rộng khoảng 16 km2; khu du lịch Hầm Hô diện tích mặt nước khoảng 0,1 km2 (tổng diện tích khu du lịch 0,4 km2); Hồ Núi Một diện tích mặt nước khoảng 0,8 km2 (tổng diện tích 12 km2); 4 con sông lớn tổng chiều dài 242 km gồm: sông Hà Thanh, sông La Tinh, sông Lại Giang và sông Kôn. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 01 tuyến Hải Cảng - Nhơn Châu đang khai thác với tần suất 01 chuyến đi về/ngày, chiều dài 30 km, nối thành phố Quy Nhơn với xã đảo Nhơn Châu.
7.5. Hệ thống thủy lợi, đê điều
Toàn tỉnh có 709 công trình thủy lợi. Trong đó có 163 hồ chứa nước, với tổng dung tích chứa là 592 triệu m3 nước; 278 đập dâng và 268 trạm bơm, bảo đảm tưới chắc cho diện tích canh tác 119.109 ha, (lúa 96.969 ha, màu 21.672 ha, nuôi trồng thủy sản và muối: 468 ha).
Nhưng các hồ chứa cũng là mối hiểm họa cho dân cư vùng hạ lưu nếu xảy ra sự cố về công trình. Qua rà soát, hiện trạng vẫn còn 36 hồ chứa bị hư hỏng, xuống cấp chưa được sửa chữa với tình trạng hư hỏng chủ yếu là thấm qua thân đập; mặt đập bị biến dạng, mái đập sạt lở; khẩu độ thoát lũ không đáp ứng yêu cầu, tràn đất bị xói lở; trong đó, có 12 hồ xuống cấp nghiêm trọng, nguy cơ mất an toàn trong mùa mưa năm 2022. Trong giai đoạn 2021-2025 Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ ưu tiên đầu tư sửa chữa, nâng cấp 36 hồ chứa hư hỏng xuống cấp.
Toàn tỉnh đã xây dựng kiên cố được khoảng 334,9/712,1 km đê kè sông; 57,2/106,3 km đê kè cửa sông và 12,7/28,2 km đê kè biển. Cụ thể:
Đê kè sông: Tổng chiều dài khoảng 712,1 km, làm nhiệm vụ bảo vệ dân sinh và sản xuất tại những vùng xung yếu thường xuyên bị lũ lụt hoặc những đoạn sông cong bị xói lở. Đã được xây dựng kiên cố với tổng chiều dài khoảng 334,9 km (bằng 47% chiều dài đê kè), tập trung chủ yếu ở các sông lớn như sông Lại Giang, La Tinh, sông Kôn, Hà Thanh và một số dòng suối chính; đê kè cửa sông: Tổng chiều dài 57,2/106,3 km đê kè cửa sông, tập trung chủ yếu ở cửa sông Tam Quan, cửa sông Lại Giang, cửa sông La Tinh và cửa sông Kôn - Hà Thanh (đê Đông); đê biển: Đã kiên cố được 12,7/28,2 km đê kè biển.
Hệ thống đê, kè sông bảo vệ dân cư, sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng những khu vực xung yếu vùng trung du, vùng đồng bằng dọc theo 4 sông lớn Lại Giang, La Tinh, sông Kôn và Hà Thanh. Các tuyến đê được thiết kế với khả năng phòng chống lũ với tần suất 10% cho lũ sớm, lũ muộn, lũ tiểu mãn (riêng đê thuộc nội thành Quy Nhơn có tần suất 5%), lũ chính vụ chấp nhận cho tràn qua đê để phân lũ vào trong đồng. Khi mưa lũ lớn diện rộng, kết hợp với triều cường thì vùng hạ lưu của bốn sông lớn xảy ra ngập lụt. Hệ thống đê hiện có chỉ bảo đảm chống đỡ được với gió bão cấp 7 - 8 khi không có triều cường.
Toàn tỉnh có 5.065 km hệ thống kênh mương. Hàng năm lũ lụt gây sạt lở, bồi lấp kênh mương, không dẫn được nước tưới phục vụ sản xuất.
7.6. Hệ thống điện lưới
Hệ thống điện trong tỉnh được cấp từ hệ thống điện Quốc gia khu vực Miền Trung qua trạm biến áp 220 kV (Quy Nhơn, Phù Mỹ, Phước An) và 15 trạm biến áp 110 kV với tổng công suất 889 MVA trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố; sau đó qua đường dây 22 kV đến các trạm phân phối 22/0,4 kV để cấp điện cho các phụ tải phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Lưới điện trung áp đã được đầu tư toàn bộ tại các xã, phường trong tỉnh; trong đó, có 159 phường, xã có điện lưới quốc gia.
Toàn tỉnh có 502 km đường dây cao thế 110kV; 2.832 km đường dây 22kV và 4.832 km đường dây hạ thế; 15 trạm biến áp 110 kV với công suất trung bình đạt 368 MW; có 4.536 trạm biến áp phân phối điện.
Trên địa bàn tỉnh Bình Định hiện có 3 dự án điện gió đã vận hành phát điện với tổng công suất 77,4 MW; 05 dự án điện mặt trời vận hành phát điện với tổng công suất là 415,5 MWp và 09 nhà máy thủy điện đang vận hành phát điện với tổng công suất là 158,9 MW (Số dự án trên chưa tính đến dự án thủy điện An Khê-KaNak, có cụm đầu mối thuộc địa bàn tỉnh Gia Lai, chỉ có nhà máy thủy điện An Khê nằm trên địa bàn tỉnh Bình Định với có công suất lắp máy 160MW đang vận hành phát điện). Các nhà máy điện vận hành phát điện đã góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, giải quyết việc làm cho người lao động và tăng thu ngân sách đáng kể cho địa phương.
Hiện nay còn 01 dự án điện gió, công suất 30 MW đã thi công xong nhưng chưa hoàn thành kịp các quy trình nghiệm thu, thử nghiệm trước ngày 01/11/2021 để đưa vào vận hành phát điện thương mại; 01 dự án điện mặt trời giai đoạn 2, với quy mô công suất 114 MWp đã thi công hoàn thành nhưng chưa có quy định mới để đưa vào vận hành.
Đối với các dự án thủy điện đã có tác động tích cực trong việc góp phần duy trì điều hòa dòng chảy về hạ du vào mùa kiệt nhằm phục vụ cho các nhu cầu cấp nước sinh hoạt, sản xuất, đẩy mặn,… Nhiều dự án thủy điện hoàn thành góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn vùng sâu, vùng xa phục vụ đời sống, sản xuất của người dân nông thôn, nhất là hệ thống giao thông giữa các khu vực lân cận. Nhiều tuyến đường vành đai nối liền các xã miền núi, tạo điều kiện thuận lợi giao thương giữ các vùng, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội.
Hệ thống điện trong tỉnh đang vận hành an toàn, bảo đảm cung cấp điện ổn định. Tuy nhiên, cần quan tâm bảo trì, nâng cấp hệ thống điện để bảo đảm vận hành an toàn trong mùa mưa bão.
7.7. Hệ thống nước sinh hoạt
- Hệ thống cấp nước đô thị và khu công nghiệp:
Đến năm 2022, hầu hết các đô thị và khu công nghiệp trong tỉnh đã được cung cấp nước sạch, nguồn nước được lấy từ 22 nhà máy xử lý nước sạch được quản lý, vận hành khai thác do 11 đơn vị cấp nước, trong đó gồm: 06 đơn vị sự nghiệp công lập1; 03 doanh nghiệp tư nhân2; 02 Công ty cổ phần được cổ phần hóa từ các doanh nghiệp nhà nước3.
Đến nay, tổng công suất thiết kế các nhà máy cấp nước tại các đô thị đạt 100.630 m3/ngày.đêm (tăng 14.698 m3/ngày.đêm so với cuối năm 20194), tổng công suất khai thác nước sạch tại các đô thị và khu công nghiệp đạt 86.154 m3/ngày.đêm (đạt 85,6% tổng công suất thiết kế), tăng 12.765m3/ngày.đêm so với cuối năm 2019 (tăng 13,58%).
Tỷ lệ người dân đô thị được cung cấp nước sạch đạt 80,06%, (năm 2021)
- Hệ thống cấp nước nông thôn:
Trên địa bàn tỉnh có 129 công trình cấp nước tập trung vùng nông thôn, tổng công suất thiết kế 47.449 m3/ngày.đêm, cấp nước cho 80.800/105.662 hộ, đạt 76,5%. Trong đó: 106 công trình có công nghệ xử lý đơn giản (lắng, lọc), chủ yếu là các công trình cấp nước phục vụ cho vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số và 23 công trình có công nghệ xử lý nước hoàn chỉnh, công suất thiết kế 34.028 m3/ngày.đêm (chiếm 72,58% tổng công suất), cấp nước cho 73.445 hộ (chiếm 69,5%), tập trung ở vùng trung du, đồng bằng và ven biển.
Tổng số hộ dân nông thôn là 308.321 hộ, trong đó, tổng số hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh là 305.704 hộ, đạt 99,1% bao gồm: 90.117 hộ được sử dụng nước từ công trình cấp nước tập trung đạt 29,2% (trong đó, có 12.440 hộ sử dụng nước từ các công trình cấp nước đô thị và 77.677 hộ sử dụng nước từ các công trình cấp nước tập trung nông thôn); 215.587 hộ sử dụng nước từ cấp nước nhỏ lẻ bằng giếng khoan, giếng đào chiếm 69,92%. Phấn đấu đến 2025 sử dụng nước đáp ứng theo QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế đạt 40%.
Trong 129 công trình có 16 công trình hoạt động bền vững (chiếm 12,4%), 01 công trình hoạt động tương đối bền vững (chiếm 0,8%), 79 công trình hoạt động kém bền vững (chiếm 61,2%) và 33 công trình không hoạt động (chiếm 25,6% các công trình, đã được công trình mới thay thế, không còn vai trò cấp nước). Hiện tại có 92 công trình cấp nước không đạt chất lượng theo quy định.
Tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh chưa thật sự ổn định, thường biến động, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai.
Các hệ thống cấp nước vùng đồng bằng cấp đến hộ gia đình có đồng hồ đo nước và thu phí sử dụng nước, có tổ chức quản lý vận hành công trình. Một số công trình không sử dụng hết công suất thiết kế, hiệu quả chưa cao.
7.8. Hệ thống thông tin cảnh báo
Hiện nay, hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn trên địa bàn tỉnh gồm có hệ thống trạm quan trắc của ngành Khí tượng thủy văn Quốc gia và mạng lưới các trạm quan trắc tự động lượng mưa, mực nước chuyên dùng (cho công tác phòng chống thiên tai, quản lý công trình thủy lợi, thủy điện).
Hệ thống trạm quan trắc ngành Khí tượng thủy văn Quốc gia đang vận hành gồm: 01 trạm hải văn Quy Nhơn (tự động), 06 trạm thủy văn (04 tự động gồm trạm An Hòa, Bồng Sơn Vĩnh Hiệp, Bình Nghi và 02 trạm thủy văn thủ công gồm trạm An Lão và Vĩnh Sơn), 07 trạm khí tượng (trạm Quy Nhơn, An Nhơn, Hoài Nhơn, Hoài Đức, Phù Mỹ, Tây Thuận, Canh Thuận), 01 trạm cảnh báo dông sét Quy Nhơn, 01 rada thời tiết Quy Nhơn, cùng với 27 trạm quan trắc tự động lượng mưa.
Mạng lưới các trạm quan trắc tự động lượng mưa chuyên dùng hiện có 74 trạm trên các lưu vực sông trên địa bàn tỉnh, như sau: Trên lưu vực sông Kôn - Hà Thanh có 35 trạm/diện tích lưu vực 3.809 km2 (mật độ 109 km2/1 trạm); lưu vực sông La Tinh có 14 trạm/diện tích lưu vực 780 km2 (mật độ 56 km2/1 trạm); lưu vực sông Lại Giang có 22 trạm/diện tích lưu vực 1.402 km2 (mật độ 64 km2/1 trạm), lưu vực đầm Trà Ổ có 02 trạm và 01 trạm ở xã đảo Nhơn Châu, thành phố Quy Nhơn.
Về trạm quan trắc tự động mực nước chuyên dùng hiện có 40 trạm: Trên lưu vực sông Kôn - Hà Thanh có 15 trạm, lưu vực sông La Tinh có 13 trạm, lưu vực sông Lại Giang có 12 trạm. Trong 40 trạm trên, có 21 trạm quan trắc mực nước sông (sông Kôn 8 trạm, sông Hà Thanh 4 trạm, sông La Tinh 06 trạm, sông Lại Giang 3 trạm) và 19 trạm quan trắc tự động mực nước hồ chứa.
Phần mềm “Hệ thống quản lý dữ liệu quan trắc tự động lượng mưa, mực nước chuyên dùng tỉnh Bình Định” đã được xây dựng, do Văn phòng Thường trực Ban chỉ huy về Phòng chống thiên tai quản lý vận hành. Dữ liệu quan trắc mưa, mực nước được chia sẻ công khai trên trang Thông tin điện tử của Văn phòng tại địa chỉ https://quantrac.pcttbinhdinh.gov.vn.
Hệ thống cảnh báo thông tin đến cộng đồng khi điều tiết lũ các hồ chứa gồm: Hệ thống truyền tin của Ban Chỉ huy PCTT và TKCN các cấp và cộng đồng, hệ thống truyền tin của Ban Chỉ huy PCTT và TKCN hồ chứa Định Bình.
7.9. Hệ thống thông tin liên lạc
Hiện nay, hệ thống cơ sở hạ tầng để đảm bảo công tác thông tin liên lạc đã bao phủ 100% các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh, hệ thống viễn thông với: trạm thông tin di động (trạm BTS) là 1.575 trạm; tổng số thuê bao điện thoại (kể cả di động và cố định) là 1.396.381 thuê bao; cột treo cáp khoảng 8.835 tuyến cáp treo với tổng chiều dài khoảng 5.889 km, cáp ngầm có khoảng 2.110 tuyến với tổng số chiều dài khoảng 1.989 km; Mạng Internet triển khai rộng khắp với công nghệ FTTH (FTTx), truy nhập Internet tốc độ cao bằng cáp quang đến tận thuê bao; điểm cung cấp dịch vụ viễn thông có khoảng 478 điểm.
Ngoài ra, trước và trong khi có thiên tai các doanh nghiệp viễn thông luôn chủ động điều động các xe lưu động thông tin di động GSM (03 xe, bao gồm: VNPT Bình Định: 01 xe, Chi nhánh Viettel: 01 xe, Chi nhánh Mobifone: 01 xe); sử dụng các hệ thống thông tin liên lạc qua vệ tinh Inmarsat, máy liên lạc vô tuyến sóng ngắn Codan và các phương tiện về ô tô, xe máy, nhiên liệu, vật liệu phục vụ cho hoạt động đảm bảo mạng lưới Viễn thông, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống, đảm bảo thống nhất việc chỉ đạo, điều hành và phối hợp chặt chẽ giữa Ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (PCTT&TKCN) của ngành Thông tin và Truyền thông, các đơn vị, doanh nghiệp; huy động mọi lực lượng, phương tiện về bưu chính, viễn thông trên địa bàn để đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ PCTT&TKCN từ tỉnh đến cơ sở, hạn chế đến mức thấp nhất việc gián đoạn thông tin liên lạc trong quá trình PCTT&TKCN.
Mạng Bưu chính trên địa bàn tỉnh tiếp tục đảm bảo cung cấp các dịch vụ và đáp ứng kịp thời nhu cầu về chuyển phát thư, báo, các loại công văn giấy tờ, bưu phẩm, bưu kiện cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức và nhân dân. Toàn tỉnh duy trì ổn định với 187 điểm phục vụ bưu chính, chuyển phát chủ yếu của 2 doanh nghiệp là Bưu điện tỉnh và Bưu chính Viettel.
Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Định, Báo Bình Định, Trung tâm Văn hóa - Thông tin và Thể thao các huyện, thị xã, thành phố, Đài truyền thanh cơ sở thực hiện tốt công tác phổ biến các kiến thức về tình hình diễn biến thiên tai bất thường, biến đổi khí hậu để tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về PCTT&TKCN đến người dân; Phổ biến kiến thức, kinh nghiệm, gương điển hình trong công tác phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.
Đài thông tin duyên hải Quy Nhơn đảm bảo thông tin liên lạc trên các vùng biển Việt Nam; Thực hiện tốt các nhiệm vụ trực canh, tiếp nhận và xử lý thông tin cấp cứu khẩn cấp, thông tin an toàn an ninh và quảng bá thông tin an toàn hàng hải.
Ngoài ra còn có hệ thống giao ban trực tuyến đảm bảo thông suốt để tổ chức các hội nghị trực tuyến triển khai công tác PCTT&TKCN của tỉnh.
Cơ sở Phật giáo có 283 Chùa, 21 Tịnh xá, 6 Tịnh thất, 30 Niệm Phật đường và 01 trường Trung cấp Phật học. Công giáo có 94 Nhà thờ bao gồm tại thành phố Quy Nhơn (31), huyện Tuy phước (29), Tây Sơn (4), Phù Cát (7), Phù Mỹ (2), Hoài Nhơn (3), Hoài Ân (1),Vân Canh (1) và thị xã An Nhơn (16). Ngoài ra còn có 8 cơ sở đạo Tin Lành; 54 cơ sở đạo Cao Đài, 6 cơ sở Đạo Minh Sư. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng tôn giáo những năm gần đây được trùng tu, xây dựng kiên cố. Bên cạnh việc tín ngưỡng, các cơ sở tôn giáo còn là nơi trú tránh bão, lũ lụt của nhân dân.
CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
1. Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến PCTT
- Quyết định số 2028/QĐ-UBND ngày 12/6/2015 của UBND tỉnh Bình Định phê duyệt Bộ hướng dẫn lập Kế hoạch Phòng chống thiên tai cấp tỉnh.
- Quyết định số 233/QĐ-UBND ngày 20/01/2020 của UBND tỉnh Bình Định Ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 18/6/2018 của Chính phủ về công tác phòng, chống thiên tai.
- Quyết định số 32/2012/QĐ-UBND ngày 10/8/2012 của UBND tỉnh Bình Định Quy định mức hỗ trợ dân sinh, hỗ trợ sản xuất, tàu thuyền bị thiệt hại do thiên tai, lũ lụt và dịch bệnh gây ra.
- Quyết định số 11/2013/QĐ-UBND ngày 03/6/2013của UBND tỉnh Bình Định về sửa đổi, bổ sung một số Quy định mức hỗ trợ sản xuất bị thiệt hại do thiên tai, lũ lụt và dịch bệnh gây ra tại Quyết định số 32/2012/QĐ-UBND ngày 10/8/2012 của UBND tỉnh.
- Quyết định số 40/2018/QĐ-UBND ngày 20/7/2018 của UBND tỉnh Bình Định Quy định mức hỗ trợ để khôi phục sản xuất nông nghiệp vùng bị thiệt hại thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Bình Định.
- Quyết định số 3577/QĐ-UBND ngày 03/10/2019 của UBND tỉnh Bình Định về việc ban hành kế hoạch phối hợp ứng phó tai nạn hàng không dân dụng trên địa bàn tỉnh.
- Kế hoạch số 204/KH-PCTTTKCN ngày 24/10/2019 của UBND tỉnh Bình Định về việc phối hợp ứng phó tai nạn tàu thuyền trên biển.
- Quyết định số 132/UBND ngày 10/01/2020 của UBND tỉnh ban hành Chương trình, công tác trọng tâm năm 2020;
- Quyết định số 1146/QĐ-UBND ngày 03/4/2017 của UBND tỉnh về việc thành lập Quỹ Phòng, chống thiên tai tỉnh Bình Định;
- Quyết định số 1147/QĐ-UBND ngày 03/4/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc thành lập Hội đồng quản lý Quỹ Phòng, chống thiên tai tỉnh Bình Định;
- Quyết định số 2063/QĐ-UBND ngày 18/6/2018, số 3653/QĐ-UBND ngày 24/10/2018 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ Phòng, chống thiên tai tỉnh Bình Định.
- Quyết định số 2684/QĐ-UBND ngày 08/8/2018 của UBND tỉnh về việc bổ sung thành viên Hội đồng quản lý Quỹ Phòng, chống thiên tai tỉnh Bình Định;
- Quyết định số 926/QĐ-UBND ngày 21/3/2019 của UBND tỉnh về việc giảm mức đóng góp Quỹ Phòng, chống thiên tai đối với các tổ chức kinh tế hạch toán độc lập;
- Quyết định số 4919/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của UBND tỉnh về việc thành lập lực lượng quản lý đê nhân dân trên địa bàn tỉnh Bình Định;
- Quyết định số 2518/QĐ-UBND ngày 25/06/2020 của UBND tỉnh công bố danh mục thủ tục hành chính mới ban hành trong lĩnh vực PCTT thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bình Định.
- Quyết định số 501/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược Quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh.
- Quyết định số 05/2022/QĐ-UBND, ngày 16/3/2022 của UBND tỉnh Ban hành Quy định về nội dung chi, mức chi của Quỹ Phòng, chống thiên tai tỉnh.
- Quyết định số 1166/QĐ-UBND, ngày 08/4/2022 của UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch kiên cố hóa kênh mương, kênh mương nội đồng năm 2022.
- Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 08/4/2022 của UBND tỉnh về Công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2022 trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra trên địa bàn tỉnh.
- Kế hoạch số 48/KH-UBND ngày 15/4/2022 của UBND tỉnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ giai đoạn 2022 - 2025 trên địa bàn tỉnh.
- Quyết định số 1355/QĐ-UBND ngày 26/04/2022 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 1651/CT-BNN-PCTT ngày 18/3/2022 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc tăng cường công tác quản lý đê điều và chuẩn bị sẵn sàng hộ đê, chống lũ, bão năm 2022 trên địa bàn tỉnh.
- Quyết định số 1655/QĐ-UBND ngày 26/5/2022 của UBND tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Bình Định.
- Quyết định số 1852/QĐ-UBND ngày 09/6/2022 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Kế hoạch thu Quỹ Phòng, chống thiên tai năm 2022.
Các cơ chế, chính sách, kế hoạch UBND tỉnh ban hành đảm bảo nguồn lực và các điều kiện hoạt động cho Ban chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS các cấp và lực lượng làm công tác phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh.
2. Hệ thống chỉ huy PCTT và TKCN các cấp và quy chế phối hợp
Hệ thống Ban chỉ huy PCTT- TKCN và PTDS xuyên suốt từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã. Các sở, ban, ngành thành lập Ban chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS của cơ quan, đơn vị mình.
Trưởng ban Ban chỉ huy PCTT- TKCN và PTDS tỉnh phân công nhiệm vụ của các thành viên của Ban. Chủ tịch UBND tỉnh là Trưởng ban Ban Chỉ huy PCTT - TKCN và PTDS tỉnh phụ trách chung, trực tiếp chỉ huy công tác PCTT - TKCN và PTDS trong toàn tỉnh;
Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh là Phó Trưởng ban thường trực giúp Trưởng ban giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực phụ trách về PCTT - TKCN và PTDS, chỉ huy, điều hành khi Trưởng ban đi công tác ngoài tỉnh;
Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh là Phó trưởng ban điều hành hoạt động của Cơ quan thường trực Ban Chỉ huy về lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn trên đất liền, trên sông và phòng thủ dân sự trên địa bàn tỉnh đồng thời là Cơ quan thường trực ứng phó sự cố tràn dầu cấp tỉnh. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan và địa phương tổ chức xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng thủ dân sự cấp tỉnh theo quy định.
Công An tỉnh là Phó Trưởng ban điều hành hoạt động của Cơ quan thường trực Ban Chỉ huy về lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn, cứu sập, chữa cháy lớn nhà cao tầng, khu đô thị, khu công nghiệp, khu dân cư trên địa bàn tỉnh. Chủ trì tổ chức xây dựng kế hoạch phòng thủ dân sự của Công an tỉnh;
Sở Nông nghiệp và PTNT là Phó Trưởng ban điều hành hoạt động của Cơ quan thường trực Ban Chỉ huy về phòng, chống thiên tai, Văn phòng thường trực Ban Chỉ huy về lĩnh vực phòng, chống thiên tai. Chủ trì tổ chức xây dựng kế hoạch phòng chống thiên tai và phòng thủ dân sự ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh là Ủy viên Thường trực chỉ đạo, điều hành Cơ quan thường trực tìm kiếm cứu nạn trên khu vực biên giới biển thuộc phạm vi quản lý của tỉnh; quản lý chặt chẽ tàu thuyền, ngư dân hoạt động trên biển; thông báo, kêu gọi tàu thuyền vào bờ trú, tránh bão, áp thấp. Kiểm đếm tàu thuyền tại các khu neo đậu, bến bãi. Chủ trì tổ chức xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng thủ dân sự của Bộ Chỉ huy bộ đội Biên phòng tỉnh. Chi tiết tại Phụ lục 3.
Ban Chỉ huy PCTT - TKCN và PTDS tỉnh được thành lập tại Quyết định số 1923/QĐ-UBND ngày 12/5/2021của UBND tỉnh. Ban chỉ huy ban hành Quy chế hoạt động của Ban tại Quyết định số 169/QĐ-BCH ngày 29/7/2021; phân công nhiệm vụ thành viên tại Quyết định số 172/QĐ-BCH ngày 02/8/2021; kế hoạch công tác năm 2022 tại Quyết định số 09/QĐ-BCH-PCTT ngày 12/02/2022; kiện toàn, điều chỉnh, bổ sung phân công nhiệm vụ thành viên tại Quyết định 123/QĐ-UBND ngày 01/6/2022.
3. Công tác dự báo, cảnh báo sớm
Việc dự báo, cảnh báo sớm về nắng, mưa trên địa bàn dựa vào thông tin dự báo của cơ quan khí tượng thủy văn và thông tin bổ sung từ hệ thống các trạm đo mưa, trạm đo mực nước chuyên dùng, thiết bị đo mực nước và dung tích theo thời gian tại các hồ chứa thủy lợi, thủy điện.
Các bản tin nhận định, dự báo, cảnh báo sớm thời tiết nguy hiểm (mưa lớn, lũ quét, bão, áp thấp nhiệt đới, gió mạnh trên biển; nắng nóng, khô hạn; dông sét; xâm nhập mặn…); các bản tin về tổng lượng mưa các đợt mưa lớn tương đối chính xác. Kết quả đo đạc, các số liệu định lượng mưa giờ, xu thế lũ, mực nước, đỉnh lũ khá sát với thực tế.
Sở Nông nghiệp và PTNT xây dựng dự án Kế hoạch quản lý lũ tổng hợp sông Kôn-Hà Thanh; đang triển khai xây dựng dự án Kế hoạch quản lý lũ tổng hợp sông La Tinh; xây dựng và cập nhật phương án ứng phó thiên tai cấp tỉnh theo cấp độ rủi ro thiên tai. Ban Quản lý Đầu tư và xây dựng thủy lợi 6 thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT xây dựng và cập nhật Phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp hồ chứa Định Bình, Phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp hồ chứa Đồng Mít làm công cụ hỗ trợ ra quyết định chỉ đạo, điều hành khi lũ lụt.
Hằng năm, Ban Chỉ huy PCTT - TKCN và PTDS chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao quản lý, sử dụng theo dõi, tổng hợp hiện trạng vật tư, phương tiện, trang thiết bị phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố thiên tai và tìm kiếm cứu nạn của các cơ quan, tổ chức để phục vụ công tác chỉ đạo điều hành công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cưu nạn và phòng thủ dân sự trên địa bàn tỉnh. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức được giao quản lý, sử dụng vật tư, phương tiện, trang thiết bị chuyên dùng phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố thiên tai và tìm kiếm cứu nạn có trách nhiệm ban hành quy chế, tổ chức thực hiện việc quản lý, sử dụng theo quy định.
Tính đến ngày 01/01/2022, vật tư, phương tiện, trang thiết bị Phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố thiên tai và TKCN chủ yếu toàn tỉnh hiện có:
- 61 xe ô tô chở người dưới 16 chỗ, 05 xe ô tô chở người dưới 40 chỗ, 53 ô tô vận tải, 34 ô tô bán tải, 14 xe chỉ huy PCLB, 03 xe thiết giáp, 08 xe cứu thương; 03 xe chữa cháy; 08 tàu các loại, 515 xuồng, 18 ca nô các loại;
- 16.944 phao áo cứu sinh, 14.613 phao tròn cứu sinh, 194 phao bè cứu sinh, 21 phao cứu sinh, 195 phao các loại, 597 bộ nhà bạt, 109 máy phát điện, 515 mặt nạ phòng độc, 12 máy bơm nước chữa cháy, 149 máy bơm nước các loại; 60 cưa xích cầm tay, 75 cưa máy. Chi tiết theo Phụ lục 4.
Các vật tư, phương tiện, trang thiết bị Phòng thủ dân sự, ứng phó sự cố thiên tai và TKCN vẫn còn thiếu về số lượng. Tàu của bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư không thể hoạt động trên biển khi sóng gió lớn hơn cấp 5. Ca nô, xuồng máy cũ không đủ công suất chạy ngược dòng nước lũ.
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2021/QĐ-TTg ngày 03/6/2021 về danh mục và quy định việc quản lý, sử dụng vật tư, phương tiện, trang thiết bị chuyên dùng phòng, chống thiên tai. Tuy nhiên đến nay địa phương vẫn chưa triển khai thực hiện mua sắm được và đang chờ hướng dẫn chi tiết của Trung ương.
Sở Công Thương chỉ đạo các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh hàng năm lập kế hoạch dự trữ hàng hóa thiết yếu để ứng phó thiên tai. Một số lượng lớn gạo, mì gói, nước uống và các hàng hóa, nhiên liệu được dự trữ trước mùa mưa bão.
Sở Y tế tổ chức dự trữ các cơ số thuốc để chữa bệnh, khử khuẩn nước, tiêu độc khử trùng, vệ sinh môi trường vùng ảnh hưởng thiên tai.
UBND các huyện, thị xã, thành phố yêu cầu các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn chuẩn bị sẵn một lượng hàng tiêu dùng thiết yếu để cung cấp khi cần thiết; yêu cầu sẵn sàng thiết bị, xe máy để hỗ trợ ứng phó trong thiên tai. Vận động các hộ gia đình vùng ảnh hưởng ngập lụt, bão, sạt lở đất dự trữ lương thực, thực phẩm đủ dùng trong 7 ngày.
Các đơn vị lực lượng vũ trang của tỉnh: Quân đội, Biên phòng, Công an và các lực lượng của Quân khu 5, Bộ Quốc phòng đứng chân trên địa bàn tỉnh là lực lượng nòng cốt trong công tác phòng, chống thiên tai; chủ lực trong công tác phòng chống, ứng phó, sơ tán, giúp dân chằng chống nhà cửa, cứu hộ, cứu nạn, thông tin, kêu gọi tàu thuyền và khắc phục bước đầu sau thiên tai trên địa bàn tỉnh, góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Các đơn vị tập trung lực lượng, phương tiện sẵn sàng khi có lệnh, chủ động ứng cứu trên từng địa bàn, nhất là các khu vực xung yếu, địa bàn trọng điểm khi bão, mưa lũ, ngập lụt.
Các sở, ban, ngành, hội đoàn thể tiếp tục kiện toàn tổ, đội xung kích PCTT và TKCN, sẵn sàng tham gia công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai thuộc cơ quan, đơn vị và chi viện cho các địa phương thường xuyên bị ảnh hưởng của bão, mưa lũ, ngập lụt và sạt lở đất. Là một lực lượng có chuyên môn, kiến thức; nếu được trang bị về phương tiện, điều kiện làm việc đầy đủ, sẽ góp phần đáng kể giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai.
UBND các địa phương có lực lượng xung kích PCTT trên địa bàn. Ở huyện, có tổ, đội xung kích của lực lượng công an, huyện đội, cán bộ các cơ quan và đoàn thể. Ở xã, có Đội xung kích Phòng, chống thiên tai, lực lượng nòng cốt là dân quân tự vệ. Các đội xung kích PCTT cấp xã được củng cố, kiện toàn theo Quyết định số 08/QĐ- TWPCTT ngày 27/3/2020 của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai, có từ 70 - 80 người. Thành phần của Đội bao gồm Dân quân tự vệ tối thiểu (40), Công an xã (8), Hội Chữ thập đỏ (1), Hội Cựu chiến binh (3), Đoàn thanh niên (6), Hội Phụ nữ (2), Công chức địa chính - xây dựng (1), Công chức văn phòng - thống kê (1), Công chức văn hóa - xã hội (1), Y tế cấp xã (1) và cán bộ thôn hoặc tổ dân phố (6). Tính đến tháng 12/2021, tổng số có 10.380 đội viên Đội Xung kích trong tỉnh. Đội Xung kích PCTT cấp xã là lực lượng thường trực, thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn theo sự phân công của Trưởng ban Ban chỉ huy cấp xã.
UBND các huyện, thị xã, thành phố còn có lực lượng quản lý đê nhân dân theo Quyết định số 4919/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của UBND tỉnh. Tổ, đội quản lý đê nhân dân của UBND thành phố Quy Nhơn có 10 người, thị xã An Nhơn 15 người, Tuy Phước 17 người, huyện Vân Canh 5 người, huyện Phù Mỹ 7 người, huyện Tây Sơn 6 người, huyện Phù Cát 8 người, thị xã Hoài Nhơn 7 người, huyện Hoài Ân 7 người, huyện Vĩnh Thạnh 4 người và huyện An Lão có 5 người. Đây là một lực lượng trong công tác PCTT và TKCN cấp xã, có nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện và xử lý giờ đầu về sự cố đê điều; tham gia xây dựng và triển khai thực hiện phương án hộ đê và phòng, chống lụt bão trên địa bàn.
Ngoài ra, UBND các địa phương còn huy động nhân lực và thiết bị của các doanh nghiệp trên địa bàn khi ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai.
6. Thông tin, truyền thông trong Phòng, chống thiên tai
- Truyền tin về công tác chỉ đạo, chỉ huy: UBND các cấp và Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp có trách nhiệm phổ biến nội dung văn bản chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai đến cộng đồng và người dân. Phương thức truyền phát văn bản chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thông qua: Văn bản điện tử, fax, email, SMS, hệ thống truyền hình, phát thanh, hệ thống thông tin cảnh báo sớm, truyền đạt trực tiếp và các hình thức khác.
- Truyền tin về thiên tai và công tác chỉ đạo, chỉ huy đến tổ chức, cá nhân quản lý phương tiện hoạt động trên biển thông qua Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, hệ thống Đài Thông tin Duyên hải Quy Nhơn, hệ thống thông tin của Bộ đội Biên phòng, Chi cục Thủy sản và các hệ thống thông tin khác như hộ gia đình, cá nhân.
- Thông tin về phòng chống thiên tai được đăng tải, cập nhật hàng ngày lên Trang thông tin điện tử của Văn phòng Thường trực Ban chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS tỉnh (https://pcttbinhdinh.gov.vn), Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (https://snnptnt.binhdinh.gov.vn), trang FanpageFacebook Thông tin phòng chống thiên tai Bình Định.
Các hoạt động chỉ huy, điều hành của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ban Chỉ huy PCTT- TKCN và PTDS các cấp; các thông tin về diễn biến thiên tai được các phóng viên, cộng tác viên phản ánh kịp thời, truyền đạt nhanh chóng, chính xác trên các phương tiện truyền thông. Hệ thống phát thanh cơ sở, trang thông tin điện tử tiếp nhận và truyền thông kịp thời đến các tổ chức, người dân biết và chủ động phòng, tránh trước khi thiên tai xảy ra.
7. Năng lực và nhận thức của cộng đồng trong Phòng, chống thiên tai
Các lực lượng vũ trang tỉnh được củng cố, tập huấn, diễn tập rèn luyện kỹ năng trong công tác phòng, chống thiên tai. Hằng năm cán bộ, chiến sĩ tham gia các lớp tập huấn về điều khiển phương tiện thủy nội địa, tìm kiếm cứu nạn đường không, đường biển do UBQG Ứng phó sự cố, thiên tai và TKCN tổ chức. Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh hằng năm có kế hoạch hiệp đồng các đơn vị chủ lực của Quân khu, Bộ Quốc phòng đóng trên địa bàn; tổ chức lực lượng, phương tiện, phân công khu vực khi ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Lực lượng Quân sự tỉnh, Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh hàng năm tổ chức diễn tập rèn luyện kỹ năng cán bộ, chiến sĩ trong phòng, chống thiên tai và TKCN.
Năng lực phòng chống thiên tai của các sở, ban, ngành, địa phương đã nâng lên một bước thông qua các hoạt động đào tạo, tập huấn, diễn tập hàng năm, nhất là hoạt động của Đề án Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng. Cán bộ, người dân có hoạt động tích cực trong công tác phòng chống thiên tai. Các phương án ứng phó thiên tai, kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp xã được chú trọng xây dựng, cập nhật. Công tác chuẩn bị phòng tránh thiên tai theo phương châm “4 tại chỗ” được triển khai thực hiện tại các cấp, các ngành. Người dân dự trữ trước lương thực, nhu yếu phẩm đề phòng mưa lũ, bão. Mua sắm cho gia đình xuồng, sõng, xe máy làm phương tiện di chuyển. Xây dựng kiên cố nhà cửa để chống được bão; nền nhà được tôn cao để vượt đỉnh lũ. Trong nhà có bố trí gác lửng, hoặc có sàn bê tông để chứa lương thực và tránh lũ. Thầy, cô giáo chú trọng việc quản lý học sinh trong mùa mưa lũ; không cho các em ra khỏi trường khi không có phụ huynh đưa đón. Nhà trường chủ động cho học sinh nghỉ học khi cảnh báo bão, mưa lớn.
8. Đánh giá năng lực các cơ sở hạ tầng phòng chống thiên tai
8.1. Hệ thống công trình phòng, chống thiên tai
Toàn tỉnh có 163 hồ chứa nước (chưa kể hồ chứa nước Đồng Mít) cùng với hệ thống đập dâng, trạm bơm, kênh mương bảo đảm nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, tưới ổn định cho 87% diện tích đất canh tác. Có 131 tràn chảy tự do, 32 tràn có cửa điều tiết hoặc bằng phai gỗ. Các tràn có cửa điều tiết, nếu vận hành đúng theo quy trình sẽ góp phần giảm lũ cho hạ du. Những năm gần đây, thực hiện Quyết định số 936/QĐ-TTg ngày 30/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Kôn-Hà Thanh, đã giảm đáng kể ngập lụt cho vùng hạ du. Tuy nhiên khi có mưa lớn, kéo dài lưu lượng về hồ Định Bình khoảng 2.600 m3/s thì khả năng cắt đỉnh lũ của hồ chứa rất kém.
Hệ thống thủy lợi, thủy điện trong tỉnh điều tiết lũ, giảm và chậm lũ cho vùng hạ du. Đồng thời hệ thống còn bảo đảm cấp nước ổn định phục vụ tưới sản xuất, sinh hoạt và kết hợp phát điện.
Tuy nhiên mỗi khi có mưa lớn, kéo dài thường bị ngập lụt trên diện rộng, nhiều khu dân cư bị cô lập là do: (i) hệ thống trục thoát lũ bị giảm năng lực; (ii) một số đập dâng trên sông chưa đáp ứng khả năng tiêu thoát lũ; (iii) công trình giao thông thiếu khẩu độ thoát lũ; (iv) đô thị hóa nhanh làm giảm diện tích trữ lũ; (v) khả năng cắt lũ các hồ chứa lớn thấp, đặc biệt hồ chứa nước Định Bình.
Khi có nắng hạn, nguồn nước từ 163 hồ chứa chưa đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ngày càng tăng.
Hệ thống cung cấp nước sạch bằng các công trình cấp nước tập trung chỉ đáp ứng được các đô thị và một phần dân cư nông thôn. Đa số người dân nông thôn còn sử dụng nước từ các giếng đào, giếng khoan gia đình. Mỗi khi có nắng hạn gay gắt, gần 95.000 hộ dân thiếu nước sinh hoạt. Khi xuất hiện lũ lụt các giếng thường bị ngập, nhân dân không có nước sạch sử dụng. UBND các huyện, thị xã, thành phố; các đơn vị quản lý vận hành phải có phương án bảo đảm an toàn công trình cấp nước tập trung, các tuyến ống cấp nước, các giếng khoan khai thác nước ngầm khi ảnh hưởng mưa lớn, bão, lũ lụt.
8.2. Hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn
Trong thời gian qua với nhiều nguồn lực khác nhau, UBND tỉnh đã quan tâm đầu tư hệ thống quan trắc tự động lượng mưa, mực nước. Xét về mật độ mạng lưới trạm quan trắc mưa tự động hiện có là 101 trạm (chuyên dùng 74 trạm, khí tượng thủy văn 27 trạm), trung bình 60 km2 có 1 điểm đo mưa, mật độ như vậy cơ bản đủ thông tin để phục vụ công tác chỉ huy điều hành ứng phó với mưa lũ. Tuy nhiên trên lưu vực hồ chứa nước Định Bình mật độ 178 km2 /trạm, cần tăng thêm số lượng trạm quan trắc tự động lượng mưa.
Về trạm quan trắc tự động mực nước sông, hiện có 25 trạm quan trắc mực nước sông (chuyên dùng 21 trạm, khí tượng thủy văn 04 trạm). Mật độ trạm là còn thấp, cần tăng dày mạng lưới trạm quan trắc mực nước tự động trên các sông lớn, sông nhánh. Tại các hồ chứa nước hiện có 19 trạm quan trắc tự động chuyên dùng mực nước. Theo quy định các hồ chứa nước phân loại lớn, loại vừa có cửa van điều tiết cần lắp đặt các trạm quan trắc mực nước tự động (kết hợp khi sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước).
Đồng thời cần thiết lắp đặt các trạm quan trắc tự động lưu lượng nước trên các sông lớn, nhất là ở thượng lưu các hồ chứa nước lớn Định Bình, Núi Một, Hội Sơn, Đồng Mít.
Số liệu quan trắc tự động lượng mưa, mực nước của ngành Khí tượng Thủy văn hiện nay chỉ sử dụng nội bộ của Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh và khu vực. Thời gian đến cần được chia sẻ các số liệu này theo thời gian thực cho Văn phòng Thường trực về Phòng chống thiên tai tỉnh để tổng hợp, tham mưu công tác chỉ đạo, điều hành ứng phó khẩn cấp với mưa lớn, lũ lụt.
8.3. Các khu neo đậu tàu thuyền, tránh trú bão
Toàn tỉnh có 5.990 tàu thuyền và 41.000 ngư dân, trong đó: 1.615 tàu (chiều dài dưới 12m) khai thác ven bờ, 1.098 tàu (chiều dài từ 12 ÷ 15m) hoạt động tại vùng lộng và 3.277 tàu (chiều dài trên 15m) hoạt động tại vùng khơi đánh bắt khắp ngư trường cả nước. Tàu thuyền đa số là tàu vỏ gỗ, máy nổ và phương tiện cũ kỹ. Khi xuất hiện bão, gió mạnh trên Biển Đông là có nguy cơ đối với tàu thuyền. Đã tổ chức gắn thiết bị giám sát hành trình cho 3.277 tàu cá có chiều dài thân tàu từ 15m trở lên.
Toàn tỉnh có 03 khu neo đậu tránh trú bão: (i) Khu vực thành phố Quy Nhơn khả năng neo đậu khoảng 2.000 tàu tại 4 vùng nước. Vùng nước từ cầu Hàm tử đến đường Phan Chu Trinh trú đậu khoảng 1.000 tàu. Vùng nước khu dịch vụ hậu cần Bắc Hà Thanh trú đậu 200 tàu; luồng ra vào bị bồi lấp, tàu thuyền ra vào dễ mắc cạn. Vùng nước vịnh Mai Hương trú đậu 800 tàu nhỏ, hiện nay còn 2/3 diện tích mặt nước so với ban đầu. Vùng nước xã Nhơn Phước, Nhơn Hội luồng ra vào bị bồi lấp; (ii) Đầm Đề Gi (huyện Phù Cát và Phù Mỹ), neo đậu khoảng 2.000 tàu cá. (iii) Khu vực thị xã Hoài Nhơn có cảng Tam Quan Bắc, neo đậu khoảng 1.200 tàu; Hạ tầng các khu neo đậu chưa được đầu tư; chưa có đơn vị quản lý khai thác khu neo đậu. Mỗi khi có bão, việc sắp xếp tàu thuyền trong khu neo đậu còn nhiều bất cập.
8.4. Nuôi trồng thuỷ sản
Tính đến tháng 7 năm 2022, diện tích nuôi trồng thuỷ sản cả tỉnh khoảng 3.326,5 ha tương đương so với năm 2021.
Nuôi trồng thủy sản nước ngọt: Diện tích nuôi cá nước ngọt khoảng 1.300 ha . Trong đó: diện tích nuôi cá quảng canh hồ chứa 1.250 ha; nuôi cá ao 50 ha. Đối tượng nuôi gồm các loại: cá trắm, trôi, mè, chép, rô phi …Thể tích nuôi cá lồng trong hồ chứa là 33.000 m3 (khoảng 560 lồng), đối tượng nuôi chính là cá điêu hồng. Sản lượng lũy kế đến nay khoảng 200 tấn.
Nuôi trồng thuỷ sản nước mặn: Nuôi cá biển: 1.526 lồng (trong đó nuôi cá lồng tại Phường Hải Cảng: 104 hộ/195 bè/1.386 lồng. Cá lồng tại Phù Mỹ: 140 lồng). Sản lượng đến nay đạt khoảng 85,7 tấn. Nuôi tôm hùm thương phẩm: 1.300 lồng/14.000 m3. Thu hoạch đến nay 15,1 tấn. Hiện nay khu vực nuôi tôm hùm tại Hải Giang, xã Nhơn Hải, TP. Quy Nhơn đã xả bản 1.000 lồng nuôi. Nuôi mực lá lồng, bè tại xã Nhơn Châu: 40 bè/15 hộ, thả giống nuôi 12.000 con.
Nuôi trồng thủy sản nước lợ: Diện tích thả tôm đến nay là 2.026,5 ha (diện tích nuôi TC, BTC là 658,6 ha, QCCT là 1.367,9 ha). Diện tích bệnh lũy kế là 41,74 ha tôm chân trắng, chiếm 2,2% diện tích nuôi. Tổng sản lượng tôm ước đạt là 5.539,9 tấn.
Sản xuất giống thuỷ sản: Bao gồm (i) giống tôm thẻ chân trắng, sản lượng tôm giống chân trắng đã sản xuất được đến nay là 2,8 tỷ con; (ii) giống tôm sú, sản lượng giống đã sản xuất khoảng 3,14 triệu con; (iii) giống thủy sản nước ngọt, sản xuất khoảng 598.490 con cá giống các loại.
Khi có bão, mưa lớn, lũ lụt là mối hiểm họa đối với sản xuất nuôi trồng thủy sản trong tỉnh.
8.5. Hệ thống điện, thông tin liên lạc
Mạng lưới bưu chính viễn thông với đủ các loại hình dịch vụ, điện thoại cố định, điện thoại di động mạng vinaphone, mobiphone, viettel, thông tin di động sóng ngắn Codan, thông tin chuyên dùng Inmarsat có thể đáp ứng nhanh chóng thông tin, liên lạc; bảo đảm thông tin liên lạc chỉ huy, điều hành phòng chống thiên tai trên toàn tỉnh và phục vụ các nhu cầu của khách hàng.
8.6. Hệ thống giao thông phục vụ cứu hộ, cứu nạn
Hệ thống giao thông đường bộ xuyên suốt từ tuyến Quốc lộ đến tỉnh lộ, giao thông nông thôn, đến cả vùng sâu vùng xa, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phòng chống giảm nhẹ thiên tai. Với mật độ phân bố 0,87 km/km2 nếu triển khai công tác chuẩn bị PCTT và TKCN chu đáo thì công tác ứng phó, cứu hộ, cứu nạn sẽ kịp thời giảm thiệt hại về tính mạng và tài sản.
Tuy nhiên, khi có lũ lớn hệ thống giao thông liên huyện, liên xã thường bị ngập, sạt, vỡ khó khăn trong ứng phó thiên tai.
8.7. Nhà tránh trú thiên tai cộng đồng
Về nhà ở, hiện có 246.270 nhà kiên cố chỉ bảo đảm cho khoảng 1.231.000 người dân sinh hoạt an toàn. Còn lại 283.000 người dân chưa an toàn ứng với gió bão cấp 9 - 10.
Nơi trú tránh an toàn là các cơ quan nhà nước (trụ sở UBND các xã, thị trấn huyện, thị xã, các cơ quan nhà nước, trường học, cơ sở y tế); các cơ sở tôn giáo, các nhà tránh trú cộng đồng đã được nhà nước đầu tư xây dựng trong những năm gần đây, các nhà kiên cố do hộ gia đình xây dựng.
Ngoài ra còn có 15 khu tái định cư đã được xây dựng: Hoài Hải, Hoài Hương (Hoài Nhơn); Ân Tín, Ân Thạnh (Hoài Ân); An Trung (An Lão); Mỹ An, Mỹ Thọ, Mỹ Đức (Phù Mỹ); Cát Tiến, Cát Nhơn (Phù Cát); Phước Thuận (Tuy Phước); Canh Liên (Vân Canh) và Nhơn Hải (Quy Nhơn) là nơi người dân đến tránh trú.
9.1. Hệ thống văn bản chỉ đạo điều hành;
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020-2025; Các nghị quyết, đề án, chương trình hành động của Đảng bộ tỉnh Bình Định, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy về những chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050;
Các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh về việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định; Quyết định số 5039/QĐ-UBND ngày 17/12/2021 về điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương giai đoạn 2021 -2025; Quyết định số 5079/QĐ-UBND ngày 20/12/2021 về phân bổ và giao kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước năm 2022; Quyết định số 1113/QĐ-UBND ngày 06/4/2022 về việc điều chỉnh bổ sung vốn đầu tư trung hạn giai đoạn 2021-2025 và kế hoạch đầu tư công năm 2022.
9.2. Kết quả thực hiện lồng ghép
Thực hiện Thông tư 05/2016/TT-BKHĐT ngày 06/6/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế xã hội. Tiếp tục triển khai việc lồng ghép nội dung phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai vào Quy hoạch tỉnh theo Thông tư số 10/2021/TT- BKHĐ ngày 22/12/2021 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Một số kết quả ban đầu về các mặt công tác như sau:
Lồng ghép PCTT với công tác phòng ngừa, ứng phó hạn, xâm nhập mặn: Giai đoạn 2016 - 2020 triển khai tưới tiên tiến, tưới tiết kiệm; tích nước hồ chứa hợp lý, kiểm soát chặt chẽ nguồn nước, chống xâm nhập mặn; kiên cố hóa kênh mương nội đồng; chuyển đổi mùa vụ, cơ cấu cây trồng hợp lý với nguồn nước.
Xây dựng 149 công trình cấp nước sạch tập trung: 13 công trình cấp nước đô thị công suất 67.000 m3/ngày đêm; 136 công trình cấp nước nông thôn. Tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 99,1%.
Thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai trên địa bàn tỉnh. Đến cuối năm 2021, tổ chức xây dựng và nâng cấp 20 công trình cấp nước sạch gồm: 05 công trình thuộc huyện Phù Mỹ; 01 công trình thuộc thị xã Hoài Nhơn; 02 công trình thuộc huyện Phù Cát; 02 công trình thuộc thị xã An Nhơn; 04 công trình thuộc huyện Tuy Phước; 02 công trình thuộc huyện Tây Sơn; 01 công trình thuộc huyện Vĩnh Thạnh; 01 công trình thuộc huyện Hoài Ân và 02 công trình tại huyện An Lão.
Lồng ghép PCTT với công tác phòng ngừa ứng phó bão, ngập lụt: Từ năm 2016 đến 2020 đã đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp 23 công trình hồ chứa thủy lợi; 12 công trình đập dâng, nâng cao năng lực thoát lũ trên sông; 95 công trình đê kè; 07 trạm bơm; 62 công trình kênh mương; 04 công trình cấp nước sinh hoạt. Trong đó, đáng chú ý là đã đầu tư xây dựng các dự án, công trình lớn, trọng điểm: Hồ chứa nước Đồng Mít; kênh Thượng Sơn; đập ngăn mặn trên sông Lại Giang; sửa chữa, nâng cấp hồ Núi Một; dự án Sửa chữa và nâng cao an toàn đập tỉnh Bình Định (WB8); sửa chữa cấp bách hồ chứa; dự án xây dựng cấp bách kè chống sạt lở và cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu thoát lũ, chống ngập úng hạ lưu sông Hà Thanh, thành phố Quy Nhơn; dự án khắc phục khẩn cấp hậu quả thiên tai tại một số tỉnh miền Trung - tỉnh Bình Định; Các dự án được nâng cấp góp phần giảm nhẹ thiên tai trong việc điều tiết hợp lý nguồn nước, thông thoáng dòng chảy, giảm ngập cho vùng hạ du.
Từ năm 2020 đến cuối năm 2021 nâng cấp 9 hồ chứa: Núi Miếu, An Tường, Trinh Vân, Hưng Long, Suối Rùn; Cây Me, Hố Trạnh, Suối Mây và Đồng Đèo 2. Lắp đặt 07 thiết bị đo mưa, mực nước cho các hồ chứa thuộc dự án WB8. Nâng cấp 02 kè biển: Nhơn Hải, Nhơn Lý; đê và kè sông Kôn, sông Cạn, sông La Tinh, sông Lại Giang; hoàn thành 05 đập dâng: Nha Phu, Bình Thạnh; Đức Phổ, Lão Tâm và đập ngăn mặn sông Lại Giang. Hoàn thành cầu Ngòi thuộc Tuyến ĐT633 Chợ Gồm - Đề Gi. Trên biển 3.158 tàu cá đánh bắt xa bờ được gắn thiết bị giám sát hành trình để định vị, liên lạc trên biển.
Lồng ghép phòng chống thiên tai thông qua các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, các nhiệm vụ KH&CN do Quỹ Môi trường toàn cầu tài trợ (Dự án GEF): Hoàn thành các dự án: “Xây dựng chuỗi liên kết nâng cao hiệu quả sản xuất lạc của vùng sản xuất lạc thích ứng biến đổi khí hậu (Bình Định, Phú Yên và Quảng Trị) nhằm cải thiện sinh kế cho phụ nữ và đồng báo dân tộc thiểu số” do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Bình Định thực hiện; “Nâng cao năng lực của các tổ chức cộng đồng địa phương gắn với giao quyền quản lý, bảo vệ rạn san hô tại vùng biển ven bờ thuộc Vịnh Quy Nhơn (gọi tắt là dự án Vịnh Quy Nhơn)” do Hiệp hội Thủy sản Bình Định thực hiện; Kế hoạch quản lý tổng hợp lũ sông Kôn - Hà Thanh.
Các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh: (i) “Nghiên cứu thiết lập và đánh giá chỉ số tổn thương xã hội do ngập lụt trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Bình Định”; (ii) “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS, viễn thám và địa kỹ thuật để khoanh vùng và cảnh báo tình trạng trượt lở đất, đá tại các khu vực trọng điểm tỉnh Bình Định và đề xuất các giải pháp ứng phó” được Hội đồng tư vấn đánh giá, xếp loại xuất sắc. Các nhiệm vụ đang tổ chức thực hiện.
Lồng ghép PCTT với công tác xây dựng:
Đến năm 2020 hoàn thành 8 dự án tái định cư, trong đó 04 dự án tập trung, 04 dự án xen ghép. Tổng số hộ bố trí ổn định là 859 hộ với 3.463 khẩu. Đang hoàn thiện 05 dự án tái định cư trong năm 2022: TĐC Bàu Rong, thị xã Hoài Nhơn; TĐC xã Nhơn Hải (mở rộng), thành phố Quy Nhơn; TĐC xã Cát Tiến, TĐC di dời dân vùng sạt lở Núi Gành thôn Đức Phổ, xã Cát Minh, huyện Phù Cát; TĐC thôn Vinh Quang, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước.
Hoàn thành 09 nhà trú, tránh bão lũ cộng đồng; 10 nhà sinh hoạt cộng đồng kết hợp trú tránh bão lũ; hỗ trợ 740 hộ nghèo xây dựng nhà ở kiên cố; giải quyết một phần nhà ở trú, tránh mưa lũ, bão cho nhân dân.
Xây dựng mới, cải tạo nâng cấp mở rộng một số khoa phòng các bệnh viện, trung tâm y tế và các trạm y tế cấp xã, cơ bản đáp ứng nhu cầu công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
Xây dựng các trường học, bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế kiên cố đáp ứng cấp gió bão, phòng lũ (xây dựng 55 trường học THPT đạt chuẩn, 12 nhà hiệu bộ; sửa chữa 543 phòng học, 13 phòng công vụ, 15 phòng thiết bị và công trình phụ trợ bảo đảm công tác dạy và học trong tỉnh; xây dựng hoàn thành các bệnh viện đa khoa, trung tâm y tế, trạm y tế).
Mở rộng, nâng cấp hệ thống giao thông quốc lộ, tỉnh lộ, các tuyến đường giao thông nông thôn: Hoàn thành nâng cấp Quốc lộ 1A thuộc địa bàn tỉnh; hầm đường bộ qua đèo Cù Mông; Quốc lộ 1D qua thành phố Quy Nhơn. Hoàn thành nâng cấp tuyến từ cảng Quy Nhơn đến Quốc lộ 1; tuyến Quốc lộ 19B từ sân bay Phù Cát đến Khu kinh tế Nhơn Hội; Quốc lộ 19 mới từ cầu Bà Di đến cầu Nhơn Hội. Hoàn thành đường Tây tỉnh từ Vân Canh đến công viên Long Vân, thành phố Quy Nhơn. Các tuyến đường tỉnh ĐT.639, ĐT.632, ĐT. 629, ĐT.630 được nâng cấp mở rộng.
Đến cuối năm 2021, toàn tỉnh đã bê tông hóa khoảng 6.440 km/8.050 km đường GTNT (đạt tỷ lệ 80% tổng chiều dài). Hiện 100% số xã ở khu vực nông thôn đã có đường bê tông xi măng đến trung tâm xã. Tại các xã xây dựng nông thôn mới, đến nay đã có 93/121 xã (chiếm 77%) hoàn thành tiêu chí giao thông.
Lồng ghép PCTT với công tác bảo vệ và phát triển rừng: Từ năm 2016 đến cuối năm 2021 trồng được 43.242 ha rừng. Trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng 2.198 ha; rừng sản xuất 41.044 ha. Độ che phủ rừng đến nay đạt 56,51%.
9.3. Thuận lợi và khó khăn
a) Thuận lợi: Qua các chương trình, dự án cán bộ PCTT các cấp và người dân được tập huấn, diễn tập, kỹ năng tự vệ và cứu nạn được rèn luyện. Phương tiện, dụng cụ, trang thiết bị được phân phối đến cấp xã. Kế hoạch PCTT các cấp, phương án ứng phó thiên tai các cấp được cập nhật hàng năm là công cụ hỗ trợ trong công tác phòng, chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai.
Đã xây dựng hệ thống đo mưa, đo mực nước tự động, camera giám sát lưu vực sông Kôn - Hà Thanh, một phần lưu vực sông la Tinh; trạm ra đa thời tiết Quy Nhơn; bản đồ mô phỏng ngập lụt, nước biển dâng do bão mạnh, siêu bão; quy hoạch tiêu thoát lũ lưu vực sông Hà Thanh, kế hoạch quản lý tổng hợp lũ sông Kôn - Hà Thanh. Các công trình đê, kè, đập dâng, hồ chứa nước, kênh mương; công trình giao thông; công trình cấp thoát nước; công trình xây dựng có yếu tố phòng, chống thiên tai chú trọng đầu tư lồng ghép trong quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế-xã hội của tỉnh.
Công tác phòng, chống giảm nhẹ thiên tai trên địa bàn tỉnh đã có chuyển biến tích cực, từ bị động ứng phó chuyển sang chủ động phòng ngừa. Năng lực phòng chống thiên tai được tăng cường, giảm nhiều thiệt hại do thiên tai.
b) Khó khăn: Việc lồng ghép nội dung phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai vào Quy hoạch tỉnh theo Thông tư số 10/2021/TT- BKHĐ ngày 22/12/2021 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã giải quyết khó khăn trong việc lựa chọn các biện pháp phòng, chống thiên tai; quan điểm, định hướng khi lồng ghép nội dung PCTT; cách thức đánh giá, báo cáo kết quả lồng ghép; các đầu mối để địa phương tham vấn khi thực hiện. Việc triển khai Quy hoạch tỉnh trước khi Thông tư số 10/2021/TT- BKHĐ ban hành, nên phải điều chỉnh lại nội dung, quan điểm, định hướng lồng ghép, làm chậm tiến độ thực hiện Quy hoạch tỉnh.
Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, cơ sở dữ liệu, trang thiết bị chuyên dùng cho Ban Chỉ huy PCTT- TKCN và PTDS cấp huyện, cấp xã còn hạn chế. Một số UBND cấp huyện, cấp xã vùng sâu, vùng xa thiếu thốn cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dùng PCTT. Cấp thiết phải có kế hoạch và ưu tiên bố trí kinh phí thường xuyên phục vụ công tác PCTT cấp huyện, cấp xã; trong đó quan tâm việc mua sắm vật tư, trang thiết bị, nhu yếu phẩm theo phương châm “4 tại chỗ”.
Các công trình thủy lợi, phòng chống thiên tai hư hỏng, xuống cấp cần nhiều thời gian và nguồn lực để thực hiện; Hơn 100 hồ chứa nước không có hồ sơ tài liệu thiết kế, đường đặc tính lòng hồ đã gây khó khăn lớn trong việc tính toán, dự báo nguồn nước trong công tác phòng chống lũ và kế hoạch dùng nước tưới tiêu. Kế hoạch quản lý lũ trên các sông La Tinh, sông Lại Giang chưa thực hiện nên không đủ dữ liệu kiểm soát lưu vực sông: hành lang thoát lũ, cao độ nền đối với các khu quy hoạch, các trục tiêu, các khu vực tránh trú bão… Việc phát triển hạ tầng, đô thị hóa nhanh chóng… sự quan tâm không đúng mức của các cấp chính quyền địa phương đã gây ngập úng các vùng trũng thấp với mức độ ngập sâu hơn, thời gian ngập lâu hơn và vùng ngập cũng phát triển nhiều hơn. Việc phá rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ ở các hồ chứa, khai thác rừng sản xuất không đúng quy định làm suy thoái, giảm lượng sinh thủy nguồn nước gây hạn hán những năm thiếu nước; gây lũ quét, sạt lở đất những năm mưa nhiều.
Dung tích phòng lũ các hồ chứa còn nhỏ: hồ Định Bình 112 triệu m3; hồ Núi Một 26 triệu m3; hồ Thuận Ninh 6,76 triệu m3; hồ Đồng Mít 9,28 triệu m3; hồ Hội Sơn 8,09 triệu m3. Trong thời gian sắp tới cần nâng dung tích phòng lũ cho các hồ chứa, đặc biệt hệ thống liên hồ chứa lưu vực sông Kôn, nhằm tăng khả năng phòng lũ, giảm ngập úng hạ lưu
Cần rà soát, bổ sung Chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung (theo Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg ngày 28/8/2014) cho phù hợp với thực tiễn. Hộ nghèo không đủ tiền sửa chữa nhà cửa với mức hỗ trợ thấp; không đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng.
Nhu cầu về tái định cư, ổn định cho nhân dân vùng thiên tai là cấp thiết. Việc tổ chức xây dựng cơ sở hạ tầng các khu tái định cư, di dời và ổn định đời sống người dân vùng ảnh hưởng thiên tai cần sự quan tâm, hỗ trợ ngân sách của Chính phủ. Năm 2021 xảy ra 15 khu vực sạt lở núi5 với khối lượng lớn, gây bất an trong đời sống nhân dân.
10. Đánh giá về công tác phục hồi, tái thiết
- Ngay khi kết thúc các đợt thiên tai, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo các Sở, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã kiểm tra, đánh giá thiệt hại, xác định ưu tiên và nhu cầu hỗ trợ khẩn cấp sớm ổn định đời sống và khôi phục sản xuất cho người dân theo quy định.
- Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo quyết liệt, kịp thời công tác khắc phục hậu quả sau thiên tai. Các sở, ban, ngành, đoàn thể, UBND các cấp triển khai ngay công tác khắc phục tạm hư hỏng ban đầu: Hồ đập, đê điều, kênh mương; cầu, cống, đường gia thông; bố trí chỗ ở, xây cất nhà tạm cho dân; cấp phát hàng cứu trợ; vệ sinh môi trường, phòng, chống dịch bệnh. Lực lượng nòng cốt là bộ đội, công an, Đoàn thanh niên, dân quân tự vệ; thanh niên xung kích các sở, ngành, hội, đoàn thể trong tỉnh.
- Ban Cứu trợ tỉnh tổ chức tiếp nhận và phân phối hàng cứu trợ, vận động được nhiều tổ chức, cá nhân tham gia. Tiền, hàng cứu trợ cấp phát đến người dân kịp thời, công bằng. Những năm gần đây chịu ảnh hưởng nhiều đợt bão, mưa lớn, lũ lụt diện rộng nhưng với sự tham gia của hệ thống chính trị, các tổ chức, doanh nghiệp và các nguồn lực huy động được, sau thiên tai không xảy ra nạn đói, dịch bệnh, sớm ổn định đời sống người dân.
- Cấp phát hơn nghìn tấn gạo cứu đói/năm cho dân trước Tết. Phân bổ ngân sách dự phòng của Chính phủ từ 100 đến 170 tỷ đồng/năm khắc phục thiệt hại: (i) Kè, đê, kênh mương; (ii) cầu, cống, đường giao thông; (iii) công trình cấp nước sạch. Các công trình thi công hoàn thành đúng kế hoạch.
- Hỗ trợ khắc phục thiệt hại về nông nghiệp từ 10 đến 20 tỷ đồng/năm, sớm khôi phục sản xuất.
- Được sự quan tâm của Chính phủ đến nay trên địa bàn tỉnh đã thực hiện hoàn thành 15 dự án tái định cư (TĐC) nhân dân vùng thiên tai. Trong đó hoàn thành 10 dự án TĐC tập trung, 05 dự án TĐC xen ghép với quy mô 2.347 hộ gia đình. Đến cuối năm 2021 mới bố trí ổn định cho 871 hộ gia đình. Tiếp tục di dời 1.476 hộ gia đình đến ổn định cuộc sống các khu TĐC.
11. Nguồn lực tài chính thực hiện công tác phòng, chống thiên tai
Đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua nội dung lồng ghép) bao gồm: Ngân sách chi thường xuyên, ngân sách chi đầu tư phát triển, dự phòng ngân sách nhà nước, quỹ dự trữ tài chính, nguồn vốn ODA, nguồn vốn hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế, Quỹ phòng, chống thiên tai và các nguồn hợp pháp khác.
UBND tỉnh, Ủy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Hội Chữ thập đỏ tỉnh và các tổ chức liên quan đã huy động nguồn lực cho công tác phòng, chống giảm nhẹ thiên tai; góp phần ổn định đời sống nhân dân, phục hồi sản xuất và tái thiết sau thiên tai. Các nguồn tài chính được huy động:
- Nguồn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương; ODA, viện trợ của nước ngoài để khắc phục hậu quả thiên tai, đầu tư công về cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội.
- Nguồn hỗ trợ từ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ trực tiếp đến nhân dân trong việc xây dựng lại nhà ở, thực phẩm, hàng tiêu dùng.
- Ngân sách tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã có bố trí kinh phí dự phòng cho công tác PCTT và TKCN: mua sắm vật tư, phương tiện, trang thiết bị phục vụ công tác phòng ngừa, ứng phó thiên tai; đầu tư công, hỗ trợ khắc phục cơ sở hạ tầng về thủy lợi, giao thông, xây dựng, cấp thoát nước; hỗ trợ các hoạt động PCTT của Ban chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS các cấp.
- Nguồn kinh phí Quỹ PCTT tỉnh hỗ trợ các hoạt động phòng, chống thiên tai tại Quyết định số 05/2022/QĐ-UBND ngày 16/3/2022 của UBND tỉnh.
- Ngân sách các sở, ngành, đơn vị trang bị những điều kiện thiết yếu phục vụ công tác PCTT và TKCN, khắc phục sự cố theo phương châm “bốn tại chỗ”.
CHƯƠNG IV: ĐÁNH GIÁ RỦI RO THIÊN TAI
Trong 10 năm gần đây bão, lũ lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên, nhiều đợt trong năm; Bão kèm theo mưa lớn, gây lũ lụt. Mực nước các sông lớn ở mức báo động 3 và trên báo động 3; ngập lụt phạm vi toàn tỉnh. Bên cạnh đó tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn, xói lở bờ sông, bờ biển; sạt lở đất, đá; dông, sét, lốc xoáy cũng thường xuyên xảy ra.
1.1. Về bão, áp thấp nhiệt đới
Các cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng đến tỉnh Bình Định từ năm 1990 đến nay:
|
Năm |
Tên bão |
Ngày đổ bộ |
Cấp bão |
Mức độ tổn thương |
||
|
Thấp |
Trung bình |
Cao |
||||
|
1990 |
IraLola |
Ngày 2 - 3/10 Ngày 17 - 18/10 |
Cấp 6,7, giật cấp 8 |
x |
|
|
|
1992 |
Angela Colleen |
Ngày 15 - 24/10 Ngày 26 - 28/10 |
Cấp 7, 8, giật cấp 9 |
|
x |
|
|
1995 |
Bão số 10 Bão số 11 |
Ngày 25 - 26/10 Ngày 01/11 |
Cấp 9,10, giật cấp 11 Cấp 10,11, giật cấp 12 |
|
|
x |
|
1998 |
Elvie |
Ngày 24/11 |
Cấp 7, 8 |
|
|
|
|
1999 |
ATNĐ |
Ngày 01 - 5/11 |
Cấp 5, 6 |
|
x |
|
|
2001 |
Lingling |
Ngày 9 - 12/11 |
Cấp 11,12, giật cấp 13 |
|
|
x |
|
2004 |
ATNĐ |
Ngày 10 - 13/6 |
Cấp 7, 8 giật cấp 13 |
|
x |
|
|
2005 |
ATNĐ |
Ngày 12 - 13/9 |
Cấp 5, 6 |
x |
|
|
|
2007 |
ATNĐ |
Ngày 30/10 |
Cấp 5, 6 |
x |
|
|
|
2009 |
Bão số 11 |
Ngày 02 - 3/11 |
Cấp 9, giật cấp 11 |
|
|
x |
|
2012 |
Bão số 7 |
Ngày 02 - 7/10 |
Cấp 6, 7, giật 8, 9 |
x |
|
|
|
2013 |
Bão số 10 Bão 14,15 (Haiyan) |
Ngày 30/9 Ngày 09/11 và 14/11 |
Cấp 11, giật 12,13 Cấp 13, giật 15-16. |
|
|
x x |
|
2014 |
Bão số 4 Bão số 5 |
Ngày 29/11 Ngày 5- 12/12 (K.Hòa-N.Thuận) |
Cấp 9, giật cấp 10 Cấp 5, 6, giật cấp 7 |
|
x |
|
|
2017 |
Bão số 12 |
Ngày 01-04/11 |
Cấp 10, giật cấp 11 |
|
|
x |
|
2019 |
Bão số 5 Bão số 6 |
Ngày 28-31/10 Ngày 4-11/11 (P.Yên-K.Hòa) |
Cấp 9, giật cấp 10, 11 Cấp 6, giật cấp 7 |
|
x x |
|
Đánh giá cấp độ bão: Bão và áp thấp nhiệt đới thường xuất hiện vào mùa mưa từ tháng 9 - 12. Trung bình mỗi năm chịu tác động trực tiếp của 1 - 2 cơn bão. Khi vào đất liền, bão gây gió mạnh tới cấp 11 - 12; đặc biệt năm 2013 cơn bão số 14, 15 mạnh tới cấp 13, giật cấp 15, 16. Rủi ro thiên tai do bão và ATNĐ cấp độ 4.
Những cơn bão mạnh, tốc độ di chuyển nhanh, đường đi phức tạp, khi vào gần đất liền có xu hướng lệch về phía Nam. Đáng chú ý những cơn bão xuất phát ngay trên biển Đông, di chuyển nhanh, bất ngờ, đổ bộ vào đất liền; gây thiệt hại nặng nề về ngư dân, tàu thuyền và sản xuất trong tỉnh.
1.2. Về lũ lụt:
Những cơn lũ lụt do mưa lớn tỉnh Bình Định từ năm 1990 đến nay:
|
TT |
Năm |
Thời gian lũ |
Lượng mưa (mm) |
Mức báo động |
Mức độ tổn thương |
||||
|
Sông Kôn |
Hà Thanh |
Lại Giang |
Thấp |
Tr. bình |
Cao |
||||
|
1 |
1990 |
-Đợt 1 ngày 15/6 |
84 - 280 |
- |
- |
<BĐ1 |
|
x |
|
|
-Đợt 2 ngày 13- 18/10 |
415- 690 |
BĐ3 |
- |
BĐ2 |
|||||
|
-Đợt 3 ngày 10 - 13/11 |
230- 480 |
BĐ3 |
- |
>BĐ2 |
|||||
|
2 |
1991 |
-Đợt 1 ngày 15- 18/03 |
50 - 130 |
|
|
|
|
x |
|
|
-Đợt 2 ngày 21- 25/10 |
277- 517 |
>BĐ2 |
|
BĐ1 |
|||||
|
-Đợt 3 ngày 7- 10/11 |
70 - 3 28 |
BĐ2 |
|
<BĐ |
|||||
|
3 |
1992 |
-Đợt 1ngày 20 - 25/10 |
400- 750 |
BĐ3 |
<BĐ1 |
BĐ2 |
|
x |
|
|
-Đợt 2ngày 28 - 29/10 |
50-200 |
>BĐ2 |
BĐ1 |
>BĐ2 |
|||||
|
4 |
1993 |
- Đợt 1ngày 02 - 4/10 |
300-500 |
>BĐ2 |
BĐ1 |
<BĐ1 |
|
|
x |
|
- Đợt 2ngày 04- 21/11 |
150-200 |
>BĐ2 |
<BĐ1 |
>BĐ1 |
|||||
|
- Đợt 3 ngày 04-7/12 |
100-190 |
>BĐ2 |
<BĐ1 |
<BĐ1 |
|||||
|
- Đợt 4 ngày 10-18/12 |
110-230 |
- |
- |
<BĐ1 |
|||||
|
5 |
1994 |
- Đợt 1 ngày 14-17/09 |
100-200 |
Lũ giả |
|
|
|
x |
|
|
- Đợt 2 ngày 20-21/10 |
200-300 |
>BĐ2 |
BĐ2 |
>BĐ1 |
|||||
|
6 |
1995 |
- Đợt 1 ngày 5- 8/10 |
200-300 |
>BĐ2 |
|
BĐ2 |
|
|
x |
|
- Đợt 2: |
|
|
|
|
|||||
|
từ ngày 26-27/10 |
150-250 |
>BĐ2 |
|
BĐ1 |
|||||
|
từ ngày 01/11 |
250-350 |
>BĐ2 |
|
BĐ3 |
|||||
|
từ ngày 09-11/11 |
100-150 |
>BĐ2 |
|
BĐ2 |
|||||
|
-Đợt 3 ngày 18-28/12 |
250-500 |
BĐ2 |
|
BĐ2 |
|||||
|
7 |
1996 |
-Đợt 1 từ ng 02-04/11 |
150-200 |
BĐ3 |
BĐ2 |
BĐ2 |
|
|
x |
|
-Đợt 2 từ ng 15-25/11 |
600-900 |
BĐ3 |
BĐ3 |
BĐ2 |
|||||
|
-Đợt 3 từ ng 30-3/12 |
150-300 |
BĐ3+0,8 |
>BĐ2 |
>BĐ1 |
|||||
|
-Đợt 4 từ ng 18-26/12 |
50-370 |
BĐ3 |
BĐ1 |
>BĐ1 |
|||||
|
8 |
1997 |
-Đợt 1 từ ng 20-25/09 |
170-250 |
|
|
|
|
x |
|
|
-Đợt 2 từ 28/10-04/11 |
400-600 |
BĐ3+0,4 |
>BĐ2 |
>BĐ1 |
|||||
|
9 |
1998 |
-Đợt 1: Từ 18-22/10 |
350-650 |
BĐ3+0,7 |
BĐ2 |
BĐ2 |
|
|
x |
|
-Đợt 2: Từ 2-7/11 |
130-350 |
BĐ2 |
BĐ2 |
BĐ1 |
|||||
|
- Đợt 3: Từ 12-14/11 |
250-450 |
BĐ3 |
>BĐ2 |
>BĐ1 |
|||||
|
- Đợt 4: Từ 18-22/11 |
300-650 |
BĐ3+0,7 |
BĐ3 |
>BĐ2 |
|||||
|
- Đợt 5: Từ 25-26/11 |
100-250 |
BĐ3+0,7 |
BĐ3 |
>BĐ1 |
|||||
|
- Đợt 6: Từ 10-11/12 |
100-300 |
BĐ3 |
BĐ2 |
BĐ1 |
|||||
|
- Đợt 7: Từ 14-15/12 |
100-160 |
BĐ3 |
>BĐ2 |
BĐ1 |
|||||
|
10 |
1999 |
- Đợt 1: Từ 27-28/4 |
120-134 |
- |
- |
- |
|
|
x |
|
- Đợt 2: Từ 17-19/10 |
120-230 |
BĐ2+0,74 |
<BĐ1 |
>BĐ1 |
|||||
|
- Đợt 3: Từ 23-25/10 |
150-250 |
BĐ2+0,66 |
>BĐ1 |
<BĐ1 |
|||||
|
- Đợt 4: Từ 27-28/10 |
100-150 |
BĐ2+0,32 |
>BĐ2 |
<BĐ1 |
|||||
|
- Đợt 5: Từ 01-06/11 |
300-700 |
BĐ3+0,36 |
>BĐ2 |
BĐ2 |
|||||
|
-Đợt 6:Từ 30/11-08/12 |
300-900 |
BĐ3+0,55 |
>BĐ2 |
>BĐ2 |
|||||
|
- Đợt 7: Từ 11-16/12 |
200-370 |
BĐ2+0,64 |
BĐ2 |
BĐ1 |
|||||
|
11 |
2000 |
-Đợt 1: Từ 20-22/8 |
160-200 |
- |
- |
- |
|
x |
|
|
-Đợt 2: Từ 05-11/10 |
60-150 |
BĐ2 |
<BĐ1 |
<BĐ1 |
|||||
|
-Đợt 3 Từ 11-21/11 |
180- 300 |
- |
|
|
|||||
|
Có lũ kép từ 11-14/11 |
200-500 |
BĐ2+0,67 |
BĐ2 |
<BĐ1 |
|||||
|
từ ngày 16-18/11 |
|
BĐ2+0,65 |
>BĐ1 |
<BĐ1 |
|||||
|
- Đợt 4:Từ 06-08/12 |
50-100 |
BĐ2+0,55 |
BĐ2 |
<BĐ1 |
|||||
|
12 |
2001 |
Đợt lũ ngày 19-22/10 |
250-350 |
BĐ2+0,73 |
<BĐ1 |
>BĐ1 |
x |
|
|
|
13 |
2002 |
-Đợt 1: Từ 18-24/9 |
350-450 |
BĐ2+0,22 |
|
BĐ1 |
|
x |
|
|
-Đợt 2:Từ 24-27/10 |
130-210 |
BĐ2+0,76 |
BĐ2 |
>BĐ1 |
|||||
|
-Đợt 3:Từ 6-12/11 lũ kép từ 06-08/11 |
181-243 |
BĐ2+0,57 |
>BĐ2 |
<BĐ1 |
|||||
|
và từ ngày 10-12/11 |
100-200 |
BĐ2+0,24 |
>BĐ2 |
BĐ1 |
|||||
|
14 |
2003 |
-Đợt1 từ 02-04/10 |
209-404 |
BĐ2 |
BĐ1 |
<BĐ1 |
|
|
x |
|
-Đợt 2 từ 14-20/10 |
529-879 |
BĐ3+0,39 |
BĐ3 |
>BĐ3 |
|||||
|
-Đợt 3 từ 11-14/11 |
191-364 |
BĐ3 |
BĐ3 |
>BĐ1 |
|||||
|
15 |
2004 |
Lũ từ ngày 23-29/11 |
350-540 |
BĐ2+0,88 |
>BĐ2 |
>BĐ1 |
|
x |
|
|
16 |
2005 |
4 đợt lũ lớn, đáng kể là lũ 13-16/ 12 |
2.296/ 1.460 |
BĐ3+0,9 |
BĐ3 |
BĐ3+1,8 lls |
|
|
x |
|
17 |
2006 |
Đợt mưa tháng 12 |
< 1.460 |
BĐ2 |
- |
BĐ1 |
x |
|
|
|
18 |
2007 |
Đợt từ 02-05/11 |
1.400-2.700 |
>BĐ3 |
- |
>BĐ3 |
|
x |
|
|
19 |
2008 |
-Đợt1 từ 17-25/11 có: |
560-096 |
|
|
|
|
x |
|
|
Đỉnh 1 từ 18/11 |
|
BĐ3 |
>BĐ2 |
BĐ2 |
|||||
|
Đỉnh 2 từ 19/11 |
|
BĐ3+0,38 |
>BĐ2 |
>BĐ2 |
|||||
|
Đỉnh 3 từ 25/11 |
|
BĐ3+0,68 |
>BĐ2 |
>BĐ2 |
|||||
|
-Đợt 2 từ 25/12-02/01/2009 |
450-554 |
BĐ2+0,63 |
- |
>BĐ1 |
|||||
|
20 |
2009 |
23h ngày 2/11- 3/11 |
VC 801 PC 295 AH 309 |
BĐ3+1,03 Lũ lịch sử |
BĐ3+ 1,67 |
BĐ2+0,66 |
|
|
x |
|
21 |
2010 |
-Đợt 1: 30/10 -11/11 |
300- 500 |
BĐ2+0,65 |
- |
BĐ2 |
|
x |
|
|
-Đợt 2: 14 -19/11 |
200- 470 |
BĐ3+0,13 |
- |
>BĐ3 |
|||||
|
22 |
2011 |
-Đợt 1: 17 - 20/10 |
120-326 |
BĐ2+0,13 |
>BĐ2 |
>BĐ2 |
|
x |
|
|
-Đợt 2: 05-08/11 |
161-313 |
BĐ2+0,77 |
|
>BĐ1 |
|||||
|
23 |
2012 |
-Đợt 1: 30/3-02/4 |
54-182 |
BĐ1+0,55 |
- |
- |
x |
|
|
|
-Đợt 2: 02-07/10 |
90-200 |
BĐ1+0,18 |
- |
6,0 |
|||||
|
24 |
2013 |
Đợt ngày 14-17/11 |
250 -450 |
BĐ3+1,68 Lũ lịch sử |
BĐ3+ 1,06 |
BĐ3 +1,4 |
|
|
x |
|
25 |
2014 |
Đợt lũ ngày 11- 14/12 |
70 - 190 |
BĐ1 |
BĐ2 |
- |
x |
|
|
|
26 |
2015 |
Đợt lũ ngày 01 - 06/11 |
240- 491 |
BĐ1 |
<BĐ1 |
<BĐ1 |
x |
|
|
|
27 |
2016 |
-Đợt lũ 30/10-05/11 |
300- 600 |
BĐ3+0,25 |
|
|
|
|
x |
|
-Đợt lũ ngày 05-08/12 |
200- 460 |
BĐ3+0,33 |
>BĐ3 |
BĐ3 |
|||||
|
-Đợt lũ ngày 11-16/12 |
400 - 600 |
BĐ3+0,52 |
|
|
|||||
|
28 |
2017 |
-Đợt lũ ngày 03-06/11 |
200- 300 |
BĐ3+0,49 |
>BĐ3 |
>BĐ3 |
|
|
x |
|
-Đợt lũ ngày 01-04/12 |
320- 400 |
BĐ3+0,77 |
BĐ2 |
>BĐ1 |
|||||
|
29 |
2018 |
-Đợt lũ ngày 8 - 11/12 |
300 - 500 |
BĐ3+0,25 |
>BĐ3 |
>BĐ2 |
|
x |
|
|
-Đợt lũ ngày 28/12-02/01/2019 |
100 - 230 |
BĐ2 |
BĐ1 |
BĐ1 |
|||||
|
30 |
2019 |
-Đợt lũ ngày 31/10 |
150 - 258 |
BĐ2 |
BĐ2 |
<BĐ1 |
x |
|
|
|
31 |
2020 |
-Đợt lũ ngày 27-28/10 |
140-230 |
TN BĐ3 |
BĐ1 |
BĐ3 |
|
x |
|
|
-Đợt lũ ngày 06/11 |
220-290 |
BĐ 2 |
BĐ 2 |
BĐ 2 |
|||||
|
-Đợt lũ ngày 9-11/11 |
210-590 |
BĐ3+0,3 |
BĐ3+0,3 |
BĐ1 |
|||||
|
32 |
2021 |
-Đợt lũ ngày 8-18/11 |
652 |
BĐ3 |
BĐ2+0,5 |
BĐ2 |
|
|
x |
|
-Đợt lũ 27-30/11 |
428 |
BĐ3+1,44 |
BĐ3 |
BĐ2 |
|||||
|
-Đợt lũ 25- 30/12 |
159 |
BĐ3 |
BĐ1 |
BĐ1 |
|||||
|
33 |
2022 |
Đợt mưa lũ bất thường ngày 28-30/3 |
210-290 |
BĐ2 |
BĐ1 |
BĐ1 |
|
x |
|
Đánh giá cấp độ lũ lụt: Lũ lụt xảy ra trên phạm vi rộng, bình quân mỗi năm xảy ra 3 - 4 đợt lũ. Lũ chính vụ xuất hiện vào tháng 10, 11. Lũ tiểu mãn xuất hiện vào tháng 5. Thời gian mưa gây lũ mỗi đợt thường từ 2 - 3 ngày, có đợt lên đến 5 ngày. Lượng mưa từ 200 - 300 mm, có đợt lên đến 400 - 800 mm. Đợt lũ lịch sử từ ngày 14 - 17/11/2013 lượng mưa phổ biến từ 250 - 450 mm. Đỉnh lũ sông Kôn trên BĐ3 là 1,68 m. Đợt mưa to cuối tháng 11/2021 bình quân 428 mm. Đỉnh lũ sông Kôn trên BĐ3 là 1,44 m xấp xỉ đỉnh lũ lịch sử năm 2013. Rủi ro thiên tai do lũ lụt cấp độ 3.
Từ năm 1990 đến nay, ở Bình Định năm nào cũng xảy ra bão, lũ lụt. Mỗi năm trung bình có 3 - 4 đợt lũ, Năm 2005, 2009, 2013, 2016, 2017, 2021 đã xảy ra lũ quét, lũ lịch sử gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt mưa lớn, lũ lụt, gió lốc trái mùa cuối tháng 3/2022 vừa qua là thời tiết bất thường, trái quy luật, gây thiệt hại nặng về sản xuất nông nghiệp, thủy sản và tàu thuyền trong tỉnh.
1.3. Đánh giá cấp độ sạt lở đất, đá
Trong những năm gần đây, sạt lở đất, đá xảy ra phổ biến trong tỉnh. Khi có tác động của bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt thì xảy ra sạt lở đất, đá. Đầu tháng 11/2021 lượng mưa trung bình 652 mm. Trên các vùng núi, trung du và đồng bằng ven biển đã sạt lở đất, đá nghiêm trọng. Rủi ro thiên tai do sạt lở cấp độ 1.
Sạt lở đất, đá tại 8 địa phương. Vùng núi xảy ra tại huyện An Lão (An Vinh), Vân Canh (Canh Liên). Vùng trung du tại Tây Sơn (Bình Tường), Hoài Ân (Ân Thạnh). Vùng đồng bằng ven biển tại Hoài Nhơn (Hoài Mỹ), Phù Mỹ (Mỹ Thọ), Phù Cát (Cát Thành, Cát Minh) và thành phố Quy Nhơn (Đống Đa, Quang Trung). Chính quyền địa phương tổ chức sơ tán 711 hộ/2.156 người dân bị ảnh hưởng sạt lở đất, đá đến nơi an toàn. Sơ tán tập trung 36 hộ dân tại Núi Gành, xã Cát Minh; 30 hộ dân vùng Núi Cấm, xã Cát Thành, huyện Phù Cát; 76 hộ dân phường Nhơn Phú, Bùi Thị Xuân và phường Đống Đa, TP. Quy Nhơn.
Qua khảo sát, còn có 11 khu vực/568 hộ dân sinh sống thuộc vùng nguy cơ cao sạt lở đất, đá. Huyện Hoài Ân 4 khu vực, 75 hộ (315 khẩu); huyện An Lão có 3 khu vực, 76 hộ (293 khẩu); huyện Vĩnh Thạnh có 2 khu vực, 112 hộ (560 khẩu); thành phố Quy Nhơn 2 khu vực, 305 hộ (1.138 khẩu).
Sạt lở đất, đá thường xảy ra trong đêm tối; gây hư hỏng các công trình cơ sở hạ tầng; sập đổ nhà cửa, vùi lấp khu dân cư; làm mất đất sản xuất và gây thiệt hại nghiêm trọng về người và môi trường.
1.4. Về hạn hán
Diễn biến mưa thời vụ sản xuất trong 10 năm gần đây
|
Mưa |
I |
II |
III |
IV |
V |
VI |
VII |
VIII |
So sánh |
|
TBNN6 |
62 |
22 |
29 |
42 |
132 |
102 |
81 |
113 |
583 |
|
TBNN lũy kế7 |
62 |
84 |
114 |
156 |
287 |
389 |
470 |
583 |
|
|
Năm 2009 |
168 |
20 |
17 |
182 |
248 |
70 |
57 |
54 |
816 |
|
Lũy kế |
168 |
188 |
205 |
386 |
634 |
704 |
762 |
816 |
|
|
Năm 2010 |
115 |
4 |
16 |
21 |
45 |
150 |
220 |
190 |
760 |
|
Lũy kế |
115 |
119 |
135 |
155 |
200 |
350 |
570 |
760 |
|
|
Năm 2011 |
52 |
7 |
50 |
40 |
99 |
62 |
74 |
52 |
436 |
|
Lũy kế |
52 |
59 |
109 |
150 |
249 |
310 |
384 |
436 |
|
|
Năm 2012 |
76 |
35 |
30 |
130 |
89 |
89 |
171 |
96 |
716 |
|
Lũy kế |
76 |
111 |
141 |
271 |
359 |
448 |
619 |
716 |
|
|
Năm 2013 |
52 |
61 |
28 |
66 |
161 |
150 |
198 |
95 |
811 |
|
Lũy kế |
52 |
113 |
140 |
207 |
368 |
518 |
716 |
811 |
|
|
Năm 2014 |
41 |
1 |
13 |
52 |
62 |
21 |
134 |
122 |
446 |
|
Lũy kế |
41 |
42 |
55 |
106 |
168 |
190 |
324 |
446 |
|
|
Năm 2015 |
56 |
24 |
72 |
20 |
45 |
41 |
78 |
130 |
465 |
|
Lũy kế |
56 |
79 |
152 |
172 |
216 |
257 |
336 |
465 |
|
|
Năm 2016 |
35 |
28 |
2 |
7 |
66 |
119 |
61 |
188 |
507 |
|
Lũy kế |
35 |
63 |
65 |
73 |
139 |
258 |
319 |
507 |
|
|
Năm 2017 |
136 |
87 |
21 |
36 |
134 |
84 |
119 |
139 |
756 |
|
Lũy kế |
136 |
223 |
244 |
280 |
413 |
498 |
617 |
756 |
|
|
Năm 2018 |
64 |
10 |
15 |
39 |
27 |
118 |
46 |
58 |
376 |
|
Lũy kế |
64 |
73 |
89 |
127 |
154 |
272 |
318 |
376 |
|
|
Năm 2019 |
121 |
0 |
0 |
5 |
140 |
28 |
69 |
87 |
450 |
|
Lũy kế |
121 |
121 |
121 |
126 |
266 |
294 |
363 |
450 |
|
|
Năm 2020 |
15 |
23 |
2 |
76 |
96 |
24 |
69 |
116 |
421 |
|
Lũy kế |
15 |
38 |
40 |
116 |
212 |
236 |
305 |
421 |
|
Đánh giá cấp hạn hán: Theo quy định chi tiết về cấp độ rủi ro do hạn hán của Chính phủ, thì các năm gần đây, hán hạn trong tỉnh được xếp hạng như sau:
|
Năm |
Cấp độ rủi ro hạn hán |
Lượng mưa tháng thiếu hụt |
Mức độ dễ bị tổn thương |
|||
|
so TBNN (%) |
Thời gian (tháng) |
Thấp |
Trung bình |
Cao |
||
|
2010 |
Cấp độ 2 |
>50 |
4 |
|
x |
|
|
2014 |
Cấp độ 1 |
>50 |
2 |
x |
|
|
|
2016 |
Cấp độ 2 |
>50 |
3 |
|
x |
|
|
2018 |
Cấp độ 1 |
≤ 50 |
2 |
x |
|
|
|
2019 |
Cấp độ 2 |
>50 |
3 |
|
x |
|
|
2020 |
Cấp độ 1 |
>50 |
2 |
x |
|
|
Bình Định thường xảy ra khô hạn từ tháng 3 - 8 khi có lượng mưa ít, thiếu hụt từ 50 - 70% so với lượng mưa TBNN cùng kỳ. Hầu hết các lưu vực sông thường xảy ra khô hạn khi nắng nóng kéo dài. Các năm từ 1991 - 1993, 1998, 2010, 2014, 2016, 2018, 2019, 2020 hạn hán liên tục xảy ra. Lượng mưa tháng thiếu hụt >50% so với TBNN và liên tục từ 3 đến 4 tháng. Rủi ro thiên tai do hạn hán cấp độ 2.
Khô hạn gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất và dân sinh. Từ năm 2010 - 2016, hạn hán đã làm giảm năng suất 86.360 ha gieo trồng, trong đó có 8.070 ha cây trồng bị mất trắng, 99.200 hộ thiếu nước sinh hoạt.
2. Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương
Bão, lũ lụt, khô hạn xảy ra thường xuyên và liên tục trong tỉnh. Ba năm liền 2012, 2013, 2014 có 5 cơn bão trực tiếp đổ bộ: bão số 7, số 10, 14, 15 và số 4; mức độ tổn thương từ trung bình đến lớn. Thiệt hại của bão, lũ lụt năm trước chưa khắc phục xong, năm sau tiếp tục bị bão, lũ lụt cấp độ mạnh hơn tác động nên mức độ tổn thương càng lớn hơn. Ba đối tượng chính là con người, nền sản xuất và cơ sở hạ tầng bị thiệt hại nghiêm trọng.
Hạn hán diện rộng thường xảy ra trên toàn tỉnh. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất người dân tập trung các xã An Hòa, An Trung (An Lão); Hoài Sơn, Hoài Đức, Bồng Sơn, Hoài Tân, Hoài Thanh Tây, Hoài Phú (Hoài Nhơn); Ân Đức, Ân Hữu, Ân Nghĩa 2, Ân Phong 2, Ân Tường Tây, Ân Thạnh (Hoài Ân); Mỹ Đức, Mỹ Chánh, Mỹ Châu, Mỹ Hiệp, Mỹ Hòa, Mỹ Lộc, Mỹ Phong, Mỹ Thành, Mỹ Thọ và xã Mỹ Lợi (Phù Mỹ); xã Cát Trinh, Cát Tân, Cát Lâm, Cát Minh, Cát Hải và xã Cát Sơn (Phù Cát); xã Phước Thành, Phước An (Tuy Phước); Tây Giang, Bình Nghi, Bình Thuận, Tây Thuận, Bình Thành, Bình Tường, Tây Giang, Tây An, Bình Tân, Tây Xuân và xã Vĩnh An (Tây Sơn); xã Vĩnh Hảo, Vĩnh Thuận (Vĩnh Thạnh); Canh Thuận, Canh Hiển (Vân Canh). Các năm gần đây UBND tỉnh phải thực hiện cung cấp nước uống cho dân, trợ cấp lương thực cho hộ nông dân; trợ giúp các hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy hải sản bị ảnh hưởng để khôi phục sản xuất.
Trong 05 năm gần đây từ năm 2017 - 2021 bão, mưa lũ đã làm 48 người chết, 66 người bị thương; 405 ngôi nhà bị sập, 306.364 nhà bị hư hỏng; 47 tàu thuyền bị chìm, 74 tàu bị hư hỏng. Cơ sở hạ tầng về giao thông, thủy lợi, cấp nước sạch, trường học, nhà ở, điện lực, thông tin và truyền thông… bị phá hủy nặng nề. Thiệt hại vật chất ước tính 3.430 tỷ đồng. Chi tiết thiệt hại do bão, lũ lụt từ năm 1990 đến nay theo Phụ lục 4.
3. Nhận định về nguy cơ thiên tai và tình hình thời tiết hiện nay
3.1. Nhận định về nguy cơ thiên tai
Theo Viện khoa học Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu, hiện nay biến đổi khí hậu dẫn tới những thay đổi về tần suất, cường độ, phạm vi không gian, và thời gian của các hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan, có thể dẫn đến các hiện tượng thời tiết và khí hậu khắc nghiệt chưa từng thấy.
Dự tính số lượng bão hoạt động ở Biển Đông và ảnh hưởng đến Việt Nam vào giữa cuối thế kỷ 21 có thể giảm về tần suất nhưng tăng về cường độ, gần như chắc chắn số lượng bão mạnh có xu thế tăng. Mùa bão kết thúc muộn hơn và đường đi của bão có xu thế dịch chuyển về phía Nam.
Tần suất mưa lớn sẽ tăng trong thế kỷ 21 ở nhiều vùng của Việt Nam, mưa lớn sẽ tăng rủi ro sạt lở đất ở các khu vực miền núi, trung du. Sự thay đổi lượng mưa và nhiệt độ có thể dẫn đến lũ lụt xuất hiện ngày một thường xuyên hơn, ác liệt hơn, bất thường hơn, gây tác động ngày càng rộng lớn hơn.
Số ngày và đợt nắng nóng có xu thế tăng dần trên hầu hết các khu vực, nhất là khu vực miền Trung. Các đợt hạn hán gay gắt đã và đang xuất hiện nhiều hơn ở nhiều nơi; đặc biệt là cực hạn trong đó tần suất hạn cao tập trung vào các tháng vụ Đông Xuân từ tháng 1 - 4 và vụ Hè Thu từ tháng 5 - 8.
Hiện tượng El Nino/La Nina tác động mạnh mẽ đến thời tiết, khí hậu Việt Nam. Theo diễn biến lịch ENSO trong 100 năm qua, tần suất và cường độ của El Nino và La Nina thể hiện xu thế tăng. Dự tính trong thế kỷ 21, tần suất hoạt động của dạng El Nino với dị thường nhiệt độ nước biển dương trên khu vực trung tâm xích đạo Thái Bình Dương được nhận định có xu thế tăng.
3.2. Nhận định xu thế thời tiết từ tháng 9/2022 đến tháng 02/2023
Bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm: Từ nay đến tháng 02/2023, dự báo trên khu vực Biển Đông có khoảng 08-10 bão và ATNĐ, trong đó có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta khoảng từ 03-05 cơn. Đề phòng xảy ra bão có hướng di chuyển phức tạp và mưa lớn dồn dập tại khu vực miền Trung trong các tháng cuối năm 2022. Không loại trừ khả năng tháng 01/2023 vẫn còn xuất hiện xoáy thuận nhiệt đới trên khu vực Nam Biển Đông; trong đó khu vực Bình Định chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp 1-2 cơn. Đề phòng xảy ra bão dồn dập trong các tháng cuối năm 2022.
Cần tiếp tục đề phòng các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như dông, lốc, sét trên phạm vi toàn tỉnh.
Về nhiệt độ và nắng nóng: Nhiệt độ trung bình tháng 9-10/2022 ở mức cao hơn TBNN khoảng 0,50 C, mức từ 27 - 28,50 C. Nhiệt độ trung bình tháng 11-12/2022 phổ biến thấp hơn TBNN khoảng 0,5 - 1,00 C, mức từ 23 - 240 C. Nhiệt độ trung bình tháng 01-02/2023 ở mức xấp xỉ TBNN cùng thời kỳ từ 22,8 - 23,90 C. Nhiệt độ cao nhất từ 34 - 360 C (tháng 9). Nhiệt độ thấp nhất từ 17 - 190 C, (tháng 1-2/2023).
Về tình hình mưa: Tháng 9/2022, TLM phổ biến xấp xỉ so với TBNN với xác suất khoảng 60-70% (Lượng mưa TBNN tháng 9 : vùng đồng bằng từ 200 - 270mm, vùng núi phía Bắc tỉnh 320mm).
Từ tháng 10-11/2022, dự báo lượng mưa trong tỉnh cao hơn TBNN, cảnh báo nguy cơ cao xảy ra mưa lớn dồn dập. Tháng 10/2022, TLM phổ biến cao hơn từ 20-50% với xác suất khoảng 80-90% (Lượng mưa TBNN tháng 10 từ 450 - 600mm, riêng vùng núi phía Bắc tỉnh 700mm).
Tháng 11/2022, TLM phổ biến cao hơn từ 30-50%, có nơi trên 50% so với TBNN cùng thời kỳ với xác suất khoảng 80-90% (Lượng mưa TBNN tháng 11 từ 450 - 580mm, riêng vùng núi phía Bắc tỉnh 780mm).
Tháng 12/2022, TLM phổ biến cao hơn từ 15-30% với xác suất khoảng 60-70% (Lượng mưa TBNN tháng 12 từ 150 - 230mm, riêng vùng núi 390mm).
Tháng 01/2023, TLM ở mức thấp hơn so với TBNN từ 10-30% với xác suất khoảng 60-70% (Lượng mưa TBNN tháng 01 từ 40 - 70mm, riêng vùng núi phía Bắc tỉnh 130mm).
Tháng 02/2023, phổ biến cao hơn từ 10-20% so với TBNN cùng thời kỳ với xác suất khoảng 60-70% (Lượng mưa TBNN tháng 02 từ 10 - 30mm, riêng vùng núi phía Bắc tỉnh 50mm).
Thủy văn: Từ tháng 9 đến tháng 12/2022 mực nước các sông dao động và khả năng xuất hiện 2- 3 đợt lũ lớn; đỉnh lũ cao nhất ở mức báo động 2 -3, có nơi trên báo động 3. Tháng 01 đến tháng 02/2023 mực nước các sông có xu thế giảm. Mực nước bình quân các tháng trên sông An Lão tại An Hòa cao hơn đến xấp xỉ TBNN cùng kỳ; sông Kôn thấp hơn TBNN cùng kỳ, riêng tại Vĩnh Sơn từ tháng 10 đến tháng 11 cao hơn TBNN cùng kỳ. Lượng dòng chảy trên sông An Lão tại An Hòa cao hơn đến xấp xỉ TBNN cùng kỳ.
Hải văn: Mực nước ven biển chủ yếu dao động theo thủy triều và ở mức trung bình nhiều năm cùng kỳ. Trong tháng 9/2022, độ cao sóng lớn nhất trong các đợt gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh tới 4,0 m trên vùng biển ngoài khơi và 2,0 - 3,0 m tại khu vực biển ven bờ. Tại vùng ảnh hưởng bão và ATNĐ, độ cao sóng lớn nhất từ 5-8 m với vùng biển ngoài khơi và 4-6 m tại vùng ven bờ. Các đợt không khí lạnh vào các tháng cuối năm 2022 sẽ gây sóng cao từ 2-4 m.
PHẦN 2: KẾ HOẠCH PHÒNG NGỪA, ỨNG PHÓ VÀ KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
CHƯƠNG V: CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
I. Tổ chức phòng ngừa, giảm thiểu
1.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách
a) Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS tỉnh thành lập theo Quyết định số 1923/QĐ-UBND ngày 12/5/2021 của UBND tỉnh; phân công nhiệm vụ các thành viên tại Quyết định số 172/QĐ-BCH ngày 02/8/2021 của Ban Chỉ huy.
Hàng năm tổ chức rà soát và ban hành quyết định kiện toàn Ban chỉ huy PCTT- TKCN và PTDS tỉnh và điều chỉnh phân công nhiệm vụ thành viên nhằm huy động tối đa nguồn lực của các cơ quan, tổ chức tham gia công tác phòng, chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai.
b) Quy chế hoạt động Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS tỉnh được ban hành tại Quyết định số 169/QĐ-BCH ngày 29/7/2021 của Ban chỉ huy. Quy chế quy định nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động, chế độ làm việc; trách nhiệm PCTT-TKCN và PTD; các mối quan hệ công tác, giải quyết công việc; kế hoạch công tác; chế độ hội họp, hội nghị, báo cáo của Ban Chỉ huy.
Hàng năm tổ chức rà soát, bổ sung quy chế bảo đảm hoạt động của Ban chỉ huy hiệu quả và phù hợp với diễn biến thiên tai trên địa bàn tỉnh.
c) Quy định về nội dung chi, mức chi của Quỹ PCTT tỉnh Bình Định được ban hành tại Quyết định số 05/2022/QĐ-UBND ngày 16/3/2022 của UBND tỉnh. Hàng năm tổ chức rà soát, bổ sung quy định bảo đảm nội dung chi, mức chi phù hợp với diễn biến thiên tai, nhu cầu thực tiễn của tỉnh.
d) Tổ chức xây dựng Quy định cụ thể về bảo đảm yêu cầu PCTT đối với việc quản lý, vận hành và sử dụng cơ sở hạ tầng xã hội-kỹ thuật trên địa bàn tỉnh theo yêu cầu của Thông tư số 13/2021/TT-BNNPTNT ngày 27/10/2021 của Bộ Nông nghiệp và PTNT. Thời hạn trình UBND tỉnh phê duyệt ngày 30/7/2022 và tổ chức thực hiện, rà soát bổ sung hàng năm.
đ) Quỹ Phòng, chống thiên tai tỉnh được thành lập tháng 4/2017 và tiến hành thu, nộp quỹ từ đầu năm 2019. Số dư của Quỹ đến cuối tháng 6/2022 là 31,186 tỷ đồng. Nhằm triển khai kế hoạch thu, chi Quỹ Phòng, chống thiên tai tỉnh hàng năm, cần thiết phải bảo đảm hoạt động hành chính của cơ quan quản lý Quỹ. Chi phí hoạt động hàng năm khoảng 200 triệu đồng.
1.2 . Kiện toàn tổ chức, bộ máy; tăng cường năng lực quản lý thiên tai
a) Kiện toàn tổ chức, bộ máy chỉ huy phòng chống thiên tai và TKCN các cấp đảm bảo năng lực hoạt động có hiệu quả.
b) Rà soát Quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng thường trực Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS các cấp nhằm tăng cường năng lực, hoạt động hiệu quả.
c) Nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác phòng, chống thiên tai cấp huyện, cấp xã bằng các lớp đào tạo, tập huấn; dự kiến 5 lớp đào tạo/năm.
d) Rà soát, xây dựng Đội xung kích PCTT cấp xã với lực lượng dân quân tự vệ làm nòng cốt theo hướng dẫn của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTT.
đ) Đầu tư trang thiết bị chuyên dùng cho Văn phòng thường trực Ban chỉ huy PCTT và TKCN các cấp thực hiện nhiệm vụ với diễn biến ngày càng phức tạp của thiên tai: Văn phòng làm việc, trang thiết bị họp trực tuyến, trang thiết bị văn phòng phục vụ chỉ đạo, điều hành.
e) Tổ chức diễn tập PCTT và TKCN cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Cấp tỉnh tổ chức diễn tập 5 năm 1 lần, cấp huyện 3 năm 1 lần; cấp xã 2 năm 1 lần.
1.3. Lập, rà soát và thực hiện các kế hoạch, quy hoạch, phương án
a) Thực hiện Thông tư số 02/2021/TT-BNNPTNT ngày 07/6/2021 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn xây dựng kế hoạch PCTT các cấp ở địa phương; UBND tỉnh có văn bản số 5366/UBND-KT ngày 28/8/2021 chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND cấp huyện triển khai thực hiện. Kế hoạch PCTT giai đoạn 2021 - 2025 tỉnh Bình Định tổ chức cập nhật từ tháng 3/2022 và trình UBND tỉnh phê duyệt vào tháng 8/2022.
Hướng dẫn xây dựng và cập nhật Kế hoạch PCTT cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2021 - 2025 và đôn đốc triển khai thực hiện.
b) Tổ chức xây dựng Kế hoạch quản lý lũ tổng hợp lưu vực sông Kôn-Hà Thanh giai đoạn 2. Năm 2019 đã tổ chức lập Kế hoạch giai đoạn 1: Bản đồ ngập lụt do bão mạnh, siêu bão; hệ thống đo mưa nhân dân 45 trạm, có 06 trạm tại các hồ chứa nước; hệ thống đo mưa tự động có 41 trạm; hệ thống đo mực nước tự động 9 trạm và dự án Quy hoạch tiêu úng thoát lũ hạ lưu sông Hà Thanh.
Năm 2020 tiếp tục lập Kế hoạch quản lý lũ tổng hợp hạ lưu lưu vực sông Kôn- Hà Thanh giai đoạn 2: Xử lý ảnh viễn thám và cập nhật vào hệ thống giám sát ngập lụt; kế hoạch quản lý lũ tổng hợp; cắm mốc cảnh báo và hành lang thoát lũ và nâng cấp phần mềm dự báo ngập lụt hạ du hồ Định Bình theo thời gian thực. UBND tỉnh gia hạn thời gian hoàn thành kế hoạch vào ngày 31/12/2022.
c) Quy hoạch các khu tái định cư, ổn định dân cư bảo đảm an toàn phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh
Thực hiện theo Quyết định số 590/QĐ-TTg ngày 18/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ, Sở Nông nghiệp và PTNT tham mưu UBND tỉnh triển khai Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh; trong đó, đặc biệt chú trọng nhân dân thuộc các vùng ngập lũ, sạt lở núi trong năm 2021 thuộc huyện: Hoài Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh, Phù Mỹ, Phù Cát, Tây Sơn và thành phố Quy Nhơn. Tổ chức rà soát vùng sạt lở, ngập lụt nguy hiểm, lập quy hoạch và đề xuất các dự án tái định cư trên địa bàn tỉnh.
d) Rà soát, cập nhật các phương án ứng phó thiên tai cấp tỉnh theo cấp độ rủi ro thiên tai: Cập nhật phương án ứng phó với bão, phương án ứng phó lũ lụt; xây dựng và cập nhật phương án ứng phó hạn hán; cập nhật bản đồ sơ tán dân.
1.4. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo cấp tỉnh
a) Nâng cấp công nghệ và hệ thống phân tích rủi ro thiên tai hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng bền vững thích ứng BĐKH: Thiết lập cơ sở dữ liệu trung tâm; cập nhật mô hình dự báo ngập lụt; lắp đặt 6 trạm quan trắc dòng chảy hạ du lưu vực sông Kôn - Hà Thanh (thuộc HP 3 của Dự án CRIEM). Sau khi Hiệp